Trang chủ > Bài viết

Bài viết

Bốn Thánh Tử Đạo Giáo Phận Phát Diệm:1-Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan, linh mục

Kim Ân | 08:21 | 04/05/2018

Cha Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm 1771 tại Trại Bò, xã Diên Mậu[2], huyện Yên Khang[3], trấn Thanh Hoa ngoại[4] trong một gia đình ngoại giáo. Cha mẹ cậu Khoan vốn quê ở Bồng Hải, cũng thuộc huyện Yên Khang. Lúc đó, Trại Bò[5] thuộc xứ Hảo Nho, do cố Thạch coi sóc.

    THÁNH PHAOLÔ PHẠM KHẮC KHOAN[1], LINH MỤC

    1771-1840

    Thời niên thiếu

    Cha Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm 1771 tại Trại Bò, xã Diên Mậu[2], huyện Yên Khang[3], trấn Thanh Hoa ngoại[4] trong một gia đình ngoại giáo. Cha mẹ cậu Khoan vốn quê ở Bồng Hải, cũng thuộc huyện Yên Khang. Lúc đó, Trại Bò[5] thuộc xứ Hảo Nho, do cố Thạch coi sóc. Cố Thạch đã giúp cho cả gia đình theo đạo và nhận cậu Phaolô Khoan vào Nhà Đức Chúa Trời[6]. Cậu Khoan ở với cố Thạch tại Hảo Nho.

    Một thời gian sau, cậu Khoan được gia nhập bậc thầy giảng. Bề trên trao phó cho thầy Khoan trách nhiệm quan trọng làm thầy cai tại Nhà Chung Vĩnh Trị. Những ai quen biết thầy đều làm chứng về lòng đạo đức, về tính ngay thẳng, hoà nhã, hay thương giúp người nghèo khó. Đối với người khác, thầy Khoan luôn là người quảng đại, nhưng với chính bản thân mình, thầy lại giữ nếp sống giản dị, siêng năng hãm mình theo lối nhiệm nhặt, tránh xa lối sống xa hoa phù phiếm.

    Linh mục thánh thiện

    Trở thành linh mục, cha Phaolô Phạm Khắc Khoan vẫn tiếp tục duy trì nếp sống tốt lành.

    Cũng giống như các linh mục thánh thiện đương thời, cha Khoan sống đời hãm mình nhiệm nhặt. Ngoài những dịp ăn chay theo luật Hội Thánh, cha còn ăn chay trong suốt Mùa Chay. Cha cũng giữ gìn nếp sống thanh đạm, buổi sáng chỉ uống chút nước chè, mỗi ngày chỉ ăn hai bữa cơm đơn giản. Trong suốt đời linh mục, cha chỉ đi bộ chứ không bao giờ để ai dùng võng cáng mình. Quần áo cha mặc được may bằng loại vải thường. Cha cũng luôn khích lệ những người trong nhà sống theo lối giản dị nhằm có thêm phương tiện giúp đỡ những người nghèo khổ.

    Lòng bác ái là một điểm nổi bật khác trong đời sống linh mục của cha Khoan. Nhờ nếp sống đơn giản, cha đã dành được tiền bạc để mua một đất và dựng nhà nhằm tiếp đón, nuôi dưỡng những người nghèo khổ. Không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc phần xác, qua các bài giảng, cha luôn khích lệ và đào tạo giáo dân giữ đức trong sạch và công bằng. Đối với những người trong Nhà Đức Chúa Trời, cha thường nhấn mạnh nhiều hơn đến đức khiêm nhường, vâng lời, năng nhớ mình ở trước mặt Chúa. Đối với các hối nhân, cha luôn hiền hoà, kiên nhẫn lắng nghe. Vì thế, cha được giáo dân rất kính trọng và yêu mến.

    Được đặt làm cha xứ Phúc Nhạc, một xứ đạo lớn với ba cha phó, mặc dù đã ngoài sáu mươi tuổi, cha vẫn nêu gương sống các nhân đức mà cha đã giảng dạy cho mọi người. Mỗi tháng cha đi thăm lần lượt các họ đạo Đông Biên, Tôn Đạo, và nhà dòng Yên Mối.  

    Đường thánh giá hân hoan

    Sau vài năm coi xứ Phúc Nhạc với nếp sống mẫu mực, nêu gương sáng, cha Phaolô Phạm Khắc Khoan bước vào con đường thánh giá.

    Chiều ngày 23-8-1837, cha Khoan đi thăm kẻ liệt tại Trại Bò. Cha trở lại Đông Biên để qua đêm tại nhà ông phó tổng Dụ, người công giáo. Vì là thời cấm đạo, ông Dụ đã đứng ra nhận tất cả nhà cửa đất đai của giáo xứ tại Đông Biên, nhằm tránh những rắc rối do người ngoại giáo có thể gây ra. Cha Khoan đến nhà ông Dụ qua đêm với ý định sẽ rời nhà ông ngay sáng hôm sau. Thế nhưng, ông phó lý đã trông thấy cha dâng lễ vào ban đêm liền báo cho lý trưởng biết. Viên lý trưởng liền lấy cớ đến thu thuế nên đem tuần đi vây nhà ông phó tổng Dụ. Sáng sớm hôm sau, cha Khoan vừa ra khỏi nhà đã thấy lính tráng nấp ở khắp các bụi tre quanh nhà. Cha Khoan bị bắt cùng với hai thầy giảng đi theo cha, thầy Hiếu và thầy Thanh.

    Lập tức, ba vị bị giải lên tỉnh. Dọc đường, cha gặp ông Nhàn, em ruột cha. Ông Nhàn xin được nộp mình thay anh. Cha Khoan không những từ chối, mà còn tỏ ra vui sướng được chịu đau khổ vì Chúa Giêsu. Tới thành Ninh Bình, cha Khoan phải đeo gông xiềng, bị giam vào nhà tù của quan án sát. Dù đã già yếu, suốt hơn hai năm trời, cha can đảm chịu đựng những cuộc thẩm vấn, đòn roi. Trước mặt các quan, cha luôn nhã nhặn, lịch sự, nhưng đồng thời cũng rất cương quyết.

     

     

     

    Trong buổi thẩm vấn đầu tiên, quan tuần phủ Ninh Bình[7]khuyên cha bước qua thánh giá. Cha thưa lại rằng:

    - Bẩm quan lớn, quan lớn dạy thế thực không phải lẽ.

    Quan hỏi lại:

    - Không phải lẽ sao? Nếu theo lời ta, ông sẽ giữ được mạng sống, bằng không ông sẽ mất mạng.

    - Bẩm quan lớn, nếu quan lớn từ bỏ nhà vua lúc có giặc, vì lẽ rằng vì vua đánh giặc quan lớn phải liều mạng, chẳng phải là quan lớn hèn nhát vô ơn và bất trung nhục nhã hay sao? Cũng vậy, phần tôi đã bao ân huệ và phúc lành của Thiên Chúa từ thủa ấu thơ, vậy mà quan lớn lại muốn tôi từ bỏ Ngài khi gặp khốn khó. Điều đó thực không phải lẽ.

    Nghe thế, quan tuần phủ ra lệnh đánh cha mười hai roi.

    Quan án sát[8]cũng lăng nhục cha, đồng thời thốt ra những lời phỉ báng Chúa Giêsu và giáo lý của Ngài:

    - Ông hãy mở mắt ra và nhận biết lầm lỗi của mình, hãy tuân lệnh đức vua mà giẫm lên thập giá[9], chứ đừng nghe theo bọn Tây dương vô lại.

    Cha Khoan đáp:

    - Dù sống hay chết tôi cũng không bỏ đạo.

    Thấy thuyết phục không được, quan tuần phủ và án sát mời thêm một vị quan khác. Cả ba vị cùng thẩm án với hy vọng có thể thuyết phục được cha. Nhưng ba vị cũng không thể làm cho cha thay đổi. Các quan liền truyền bắt cha đeo gông thiết diệp, tức là gông sắt, vì trước đó họ cho cha đeo gông khá nhẹ, rồi lại đưa cha vào ngục thất. Mấy ngày sau, các quan nghị án: Đạo trưởng Phạm Khắc Khoan chịu án trảm quyết, bêu đầu ba ngày để làm gương. Nhận được tin này, cha Khoan tỏ ra rất vui sướng. Nhưng khi án tâu về kinh, vua Minh Mạng dụ rằng: “Phạm nhân này đã dùng lời khéo léo lừa dối tín đồ từ lâu; khi bị nộp cho quan, hắn không chịu bước qua thập giá. Rõ ràng hắn là một bề tôi xấu xa, đáng chịu án tử. Tuy nhiên, vì thấy rằng hắn đã ngoài sáu mươi chín tuổi, không còn sống lâu được nữa, trẫm ban cho hắn chịu án giống như các đầy tớ của hắn, tức là án xử giảo giam hậu[10]”.

    Lời dụ của vua Minh Mạng khiến cha Khoan bị giam thêm mấy tháng nữa. Trong thời gian này, cha được an ủi rất nhiều, vì có một vị linh mục lén lút kiệu Mình Thánh đến cho cha rước năm lần. Các tín hữu cũng thường xuyên thăm viếng cha. Đức cha Retord Liêu cũng viết thư an ủi. Những tên lính gác cũng tỏ lòng quý mến và kính trọng cha. Họ cho cha được đọc kinh chung với hai thầy giảng, thậm chí họ cấm các tù nhân khác làm phiền hay gây ồn ào. Nhờ vài nén bạc của mấy tân tòng, cha được đổi chiếc gông nhẹ hơn, được tháo cùm chân. Nhưng cha và các tù nhân khác vẫn phải chịu bao nỗi khốn khổ do rệp cắn, muỗi đốt, nhà giam nhơ nhớp, mùi hôi thối xông lên, phải ở lẫn với những tên gian ác. Trong hoàn cảnh ấy, cha Khoan vẫn luôn vui vẻ, siêng năng cầu nguyện và luôn ao ước được chịu tử vì đạo. Cha luôn xin những người tới thăm cầu nguyện cho cha sớm được ơn trọng đại ấy. Ở trong tù, cha vẫn giữ chay các ngày thứ Sáu.

    Trong giai đoạn này, Đức cha Retord Liêu đã sắp đặt để có một người đi nuôi các vị bị tù vì đạo. Các tín hữu thăm cha cũng thường mang tới nhiều quà bánh, của cải. Cha Khoan đã dùng những thứ này giúp đỡ những người bạn tù. Cha cũng còn rửa tội cho hai em nhỏ hấp hối.

     

     

     

    Những lời lẽ khôn ngoan

    Ngày 22-11-1839, vua Minh Mạng truyền dụ cho các quan tỉnh phải tìm cách bắt cha Khoan bỏ đạo. Do vậy, các quan dụ dỗ cha:

    - Cụ biết rằng nhà vua thương cụ lắm, vì cụ đã sinh ra ở nước này. Nếu nhà vua có bắt cụ bỏ tù, cũng chi vì muốn cụ hỗi lỗi. Đó là điều kiện duy nhất để cụ được tha. Nhà vua đã truyền dụ cho phép tôi xá tội cho cụ nếu cụ chịu bước qua thập giá. Phần tôi, tôi cũng thương mến cụ lắm. Xin cụ hãy nghe theo dụ của nhà vua để tôi được thả cụ ra.

    - Bẩm quan lớn, tôi biết quan có lòng thương tôi. Tôi cũng thật phiền lòng khi phải từ chối lời quan lớn. Tuy nhiên, tôi cũng xin quan lớn báo trước cho tôi ngày tôi phải xử, để tôi có thể xếp đặt mọi sự trước khi lìa bỏ cõi đời này.

    - Được, tôi sẽ báo cho cụ biết.

    Ngày hôm sau, quan án sát mời cha vào trong dinh uống trà và dùng những lời thân tình thuyết phục cha. Cuộc đối thoại cho thấy đức tin sâu xa cùng tâm hồn tinh tế sáng suốt của cha.

    - Ôi, tôi thương cụ lắm! Cụ sẽ làm tôi vui biết chừng nào nếu cụ chịu bước qua thập giá.

    - Tôi đã suy đi nghĩ lại điều quan lớn dạy tôi. Mà lạ thay, càng suy nghĩ, tôi lại càng thấy đạo tôi theo là chính đạo, càng thấy buộc phải giữ thật kĩ đạo này cho tới chết. Thủa xưa, ông Hoàng Trớt cấm đạo, tôi đã phải ẩn trốn mãi.

    Quan hỏi lại:

    - Ông Hoàng Trớt là ai?

    - Ông ấy thuộc nhà Tây Sơn, vốn nổi lên chống nhà Lê. Khi đức tiên đế ra Kẻ Chợ[11]sau chiến thắng, chúng tôi cũng được đến yết kiến nhà vua. Đức vua ban phép cho chúng tôi được giảng đạo trong cả nước. Đức vua dụ rằng: “Hãy dạy bảo dân chúng, khích lệ họ an tâm chăm lo trồng cấy ruộng vườn, đừng theo quân Hoàng Trớt, vốn là đám làm xáo trộn đất nước này.” Từ ngày đó, chúng tôi hằng vâng theo thánh dụ đức vua, không ngừng khích lệ dân chúng xa lánh thói hư thật xấu, giữ mọi nhân đức, tránh cờ bạc say sưa, không hà hiếp nhau. Chúng tôi cũng dạy họ thờ phượng Thiên Chúa, cầu nguyện cho nhà vua và các quan để đất nước được bình an thịnh vượng. Vậy nếu tôi chối đạo, đúng là tôi sẽ khỏi chịu chết, nhưng rồi về nhà, tôi lại vẫn theo đạo như trước. Cả nhà vua lẫn các quan đều chẳng hay biết. Nhưng hành sự như thế là không chính trực, là bất trung cùng Chúa Trời mà tôi hằng thờ phường cho tới này, là bất tuân lệnh tiên đế, vì tiên đế đã truyền lệnh cho chúng tôi giảng đạo, là lừa dối đức kim thượng, lừa dối cả các quan, lại đưa vào đường lạc những ai bấy lâu đã nghe tôi giảng. Họ vẫn coi tôi như cha, vậy nếu họ thấy tôi không kiên trì lại còn bất trung, thế chẳng phải là tôi làm gương xấu cho họ sao?

    Quan tỉnh để tai nghe những lời lẽ ấy, im lặng giây lát, rồi quay sang nha lại nói rằng:

    - Các ngươi đã nghe lời cụ ấy nói đó. Người can đảm và lý sự thế này ép làm sao được?

    Quay sang phia cha Khoan, quan lại nói:

    - Tôi hiểu rằng ý cụ đã quyết, không lay chuyển được. Nhưng vốn nghĩ rằng sẽ dễ dàng thuyết phục hai đầy tớ của cụ, tôi đã gọi hai đầy tớ cụ trước, vì sợ rằng họ sẽ noi theo gương cụ. Nhưng mưu nhỏ ấy chẳng có ích gì, họ cũng bền gan y như cụ. Tôi hỏi thật, các người không muốn sống sao?

    - Bẩm quan lớn, nếu quan thương tôi và quan để tôi sống thêm ít ngày, tôi xin tạ ơn quan. Ở đời nào có ai không thích sống? Giống vật vô tri còn sợ chết, phương chi con người có trí khôn, biết cái giá của mạng sống lại càng sợ chết hơn. Nhưng nếu dám chịu chết vì Đấng đã tạo dựng nên mình, người theo đạo sẽ đạt được thiên đàng và những phần thưởng quí giá hơn nhiều lần đời tạm này.

    - Hay lắm, nhưng làm sao cụ biết rằng có thiên đàng?

    - Bẩm quan lớn, chẳng phải đức vua trị vì dưới đất này vẫn có chức quyền, ngôi thứ, của cải để thưởng cho những thần tử trung thành. Chẳng lẽ Chúa cả trời đất lại không có gì thưởng cho những kẻ trung thành với Ngài đến chết hay sao? Vậy những phần thưởng và nơi được thưởng ấy, chúng tôi gọi là thiên đàng.

    - Nhưng làm sao cụ biết rằng có Đức Chúa Trời?

    - Bẩm quan lớn, nào phải suy nghĩ sâu xa gì! Cả vũ trụ này giống như một cuốn sách vĩ đại đã mở sẵn. Sách này dạy rõ ràng cho tất cả mọi người. Xin quan hãy xem những kì công trong thiên nhiên, quan liền dễ dàng hiểu rằng phải có một Đấng tạo dựng nên tất cả, phải có một Chúa điều khiển tất cả. Vậy Đấng ấy, đạo chúng tôi gọi là Chúa Trời và chúng tôi thờ phượng Ngài.

    Quan liền quay sang nha lại và nói rằng:

    - Ta thừa nhận rằng những điều cụ ấy nói đều đúng. Cụ ấy ăn nói đĩnh đạc và nhã nhặn. Những điều cụ ấy nói thật hay quá. Cụ ấy không phải là người thường. Chắc là phải có thiên đàng.

    Quay án sang cha Khoan, quan lại nói:

    - Thú thật khi nghe cụ nói, tôi chạnh lòng thương cụ, tôi muốn cứu cụ, nhưng luật vua rất nghiêm. Nếu cụ không bước qua thập giá, chắc chắn cụ phải chết … Cụ có để lòng giận ghét cụ Duyệt vì cụ ấy đã bước qua thập giá theo lệnh vua hay không?

    - Không đâu, đạo chúng tôi dạy không được giận ghét ai.

    - Thật lạ quá! Đạo không cho giận ghét ai, quả là dị thường.

    Quan án còn hỏi thêm vài câu về một người chối đạo. Sau khi đã nghe những câu đối đáp khôn ngoan của cha, quan án liền nói:

    - Thôi, tôi chịu cụ rồi.

    Thấy không thể dụ dỗ được cha, quan án viết bản tấu khép án trảm quyết rồi gửi vào kinh. Lần này, vua Minh Mạng châu phê ngay.

    Đầu năm 1840, quan án sát được triệu về kinh. Quan án tân nhiệm[12]lại đưa cha Khoan cùng hai thầy giảng ra toà để ép các vị chối đạo. Quan án nói:

    - Nếu cụ nghe lời tôi, cụ sẽ được sống, bằng không thì chẳng có hi vọng nào ngoài cái chết. Cụ hãy nghĩ lại cho kĩ.

    - Tôi đã nghĩ kĩ lắm rồi. Hơn nữa, án của chúng tôi đã được châu phê. Tôi chỉ mong đến lúc án lệnh được thi hành. Chúng tôi chẳng bao giờ dám bước lên hình ảnh Đấng mà chúng tôi tôn thờ. Nếu muốn kéo dài thêm ít ngày sống thì chúng tôi đã bỏ đạo từ lâu rồi.

    Biết không thể thuyết phục được các vị chứng nhân, quan án truyền giải các vị vào ngục thất và quyết định ngày xử án là 28-4-1840.

    Ngày chiến thắng

    Cha Khoan vui mừng khi biết tin ngày xử án đã được ấn định. Cha muốn thánh hoá những giây phút cuối cùng trong chốn lao tù bằng lời cầu nguyện và việc bác ái. Cha suy niệm hầu như suốt đêm. Sáng hôm sau, chính cha dọn cơm cho lính canh và dọn cơi trầu cho các quan sắp đem cha đi xử. Khi các quan vào ngục để đem cha đi xử, mọi người trong ngục thất lúc đó, dù có đạo hay không, đều khóc lóc tiếc thương cha.

    Sau khi đã chúc lành cho những người đang có mặt và đem năm quan tiền còn lại phân phát cho các bạn tù, cha cất tiếng hát Te Deum (Kinh Tạ Ơn). Hai môn đệ cũng hoà giọng cùng hát với cha. Các ngài vừa đi vừa hát lời cảm tạ cho tới pháp trường. Các ngài kết thúc bằng lời Benedicamus Domino[13](Nào ta chúc tụng Chúa!). Sau đó, cha Khoan ngỏ lời với những người chứng kiến rằng:

    - Xin đừng buồn vì số phận của chúng tôi. Chúng tôi vô tội, chúng tôi chẳng làm chi chống lại đức vua, cũng chẳng làm chi chống lại luật nước. Chúng tôi chịu khổ chỉ vì mang danh Kitô hữu. Chúng tôi chịu chết chỉ vì chúng tôi từ chối bỏ đạo Chúa Giêsu, là đạo duy nhất chân thật. Với anh chị em, những người đã đi theo chúng tôi và sẽ thấy máu chúng tôi đổ ra, hãy suy nghĩ về ơn cứu độ và hãy trở về nhà bình yên.

    Tới pháp trường, cha còn tiếp tục lên tiếng:

    - Xin dâng lời chúc tụng, tôn vinh, thờ lậy Chúa trời đất, vì tình yêu Ngài mà chúng tôi chịu chết. Chúng tôi nguyện chúc cho nhà vua được mọi điều thịnh vượng, được trị vì dài lâu, và ước mong nhà vua thôi bách hai đạo thánh, đạo duy nhất có thể làm cho người ta được hạnh phúc.

    Quân lính dàn thành vòng tròn và chuẩn bị cuộc xử án. Cha Khoan nhận thấy mọi sự đã sẵn sàng, cha cất tiếng hát Allêluia ba lần.

    Các quan tiến về phía cha và nói:

    - Xin máu của cụ đừng đổ xuống trên đầu chúng tôi. Chúng tôi không gây ra cái chết của cụ.

    Cha Khoan ngồi xuống manh chiếu đã được các tín hữu trải sẵn. Quân lính tháo gông, xiềng, rồi trói tay cha lại, nhưng không buộc tay cha vào cọc. Một viên cai đội vừa đổ mấy giọt nước xuống trên người cha, vừa đọc:

    - Nam mô A Di Đà Phật.

    Ông ta nghiêng mình về phía cha rồi nói:

    - Tội tôi sắp phạm không phải tự ý tôi, xin đừng thù oán tôi.

    Trước mặt vị linh mục, toán lính múa gươm, sau lưng cha, viên đao phủ nhứ nhát chém rồi nhanh chóng xuống đao, nhưng hắn chém chệch, nên chỉ tạo ra một vết chém sâu trên cổ. Hắn chém thêm nhát nữa, nhưng cũng không mấy khá hơn. Sau nhát chém thứ ba, đầu cha rơi xuống đất. Đao phủ xách đầu giơ lên cho viên quan giám trảm, rồi ném xuống đất.

    Thầy Huân lấy vạt áo bọc đầu cha. Sau đó, thầy khâu đầu cha liền lại với xác và chôn cất ở làng Yên Mối, tức xứ Gia Lạc, giáo phận Phát Diệm ngày nay. Sau cơn bách hại, xác cha được chuyển về Phúc Nhạc.

    Ngay từ rất sớm, lòng sùng mộ các tín hữu dành cho cha Phaolô Khoan đã rất mạnh mẽ. Vụ việc chị Mến thuộc nhà dòng Thành Đức được chữa lành càng làm cho các tín hữu tin tưởng vào lời cầu bầu của cha.

    Ngày 27-5-1900, Đức Lêô XIII tuyên bố cha Phaolô Phạm Khắc Khoan là bậc chân phúc. Ngày 19-6-1988, Đức Gioan Phaolô II đã tuyên thánh cha Phaolô Phạm Khắc Khoan.        

    Kim Ân

    (còn tiếp)


    [1]Phần về cha Phaolô Phạm Khắc Khoan, thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh, chúng tôi phỏng dịch theo Adrien Launay, Les cinquante-deux serviteurs de Dieu. Tome II, Paris 1893. Chúng tôicó tham khảothêm một sốtài liệu khác, trong đó có cuốn sách của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Sách truyện các thánh tử đạo Việt Nam. Tập I-II. Hà Nội 1990.

    [2]Các tài liệu trước đây quen ghi tên gọi địa danh là Duyên Mậu. Chúng tôi dựa theo dạng chữ Hán trong bộ Đồng Khánh địa dư chí, 延茂, đọc thành Diên Mậu. Vào thời Nguyễn, xã Diên Mậu thuộc tổng Diên Mậu, huyện Yên Khánh, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

    [3]Tên gọi Yên Khang được dùng từ thời Lê Trung Hưng (1533-1789). Đến năm 1802, tên gọi này được đổi thành Yên Khương, sau đó thành Yên Khánh.

    [4]Nhà Mạc (1527-1677) gọi tên hai phủ Trường Yên và Thiên Quan, phía bắc dãy Tam Điệp, tức là tỉnh Ninh Bình ngày nay, là trấn Thanh Hoa ngoại. Năm 1806, Thanh Hoa ngoại được đổi thành đạo Thanh Bình, năm 1822 đổi thành Ninh Bình.

    [5]Trại Bò xưa kia, nay là xứ Hiếu Thuận, giáo phận Phát Diệm.

    [6]Nhà Đức Chúa Trời là cách gọi chung chỉ nhà xứ, chủng viện, Toà Giám Mục. Vào Nhà Đức Chúa Trời có nghĩa là đi tu, dâng mình cho Chúa.

    [7]Tập 70, tờ 241 bộ Châu bản triều Nguyễn hiện được lưu giữ tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I cho biết rằng quan tuần phủ Ninh Bình vào năm Minh Mạng thứ 19 (1838) tên là Trần Văn Trung.

    [8]Tài liệu đã dẫn cũng cho biết rằng quan án sát Ninh Bình tên là Bùi Cung Tiên. Theo Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (bản dịch của Viện Sử Học), Quảng Nam 2007, tr. 135-664, quan án sát Ninh Bình từ năm 1837 là Bùi Mậu Tiên. Cuối năm 1838, Bùi Mậu Tiên được thăng làm thự bố chính Cao Bằng, rồi liền sau đó lại lại làm án sát Ninh Bình. Năm 1840, ông được thăng làm thự bố chính Quảng Yên. Cũng dịp này, ông được vua triệu về kinh. Trần Trứ thay Bùi Mậu Tiên làm án sát Ninh Bình.

    [9]Cách nói của các quan khi làm án là “bất khẳng khóa quá thập tự”, dịch sát là “không chịu bước chữ thập”. Thực ra, các tín hữu thời đó chưa tìm được từ ngữ thích hợp để dịch danh từ crux của tiếng Latinh, nên phiên âm từ đó thành câu rút, chứ chưa dùng từ thập giá.

    [10]Xử giảo giam hậu tức là án thắt cổ cho chết, nhưng chưa chịu án ngay mà còn giam lại trong ngục.

    [11]Tức Thăng Long - Hà Nội.

    [12]Quan án sát Ninh Bình vào đầu năm 1840 là Trần Trứ.

    [13]Đây là lời kết thúc giờ kinh bằng tiếng Latinh.


    Số lượt xem: 968 Gửi cho bạn bè      In trang này
    >> CÁC TIN KHÁC
     
    Tòa giám mục Phát Diệm
    75 Phát Diệm Đông – Kim Sơn – Ninh Bình
    ĐT: 0303.862.058 – Fax: 0303.862 724
    Email: tgmpdiem@gmail.com

    Ban biên tập
    Email: bbt@phatdiem.org
            Copyright 2011
    Tòa giám mục Phát Diệm
    Loading ...