Trang chủ > MỤC VỤ > Chuyện mục vụ

Chuyện mục vụ

Bên đường thiên lý - ký sự (Kỳ 2)

Lm. Phêrô Hồng Phúc | 10:22 | 17/09/2011

Đại hội Thánh Mẫu với chủ đề “Vào sa mạc với Mẹ La Vang”. Đại hội được Đức cha Joseph A. Pepe chủ sự lễ khai mạc...

    LAS VEGAS


        

    Biển là thân quen với Việt Nam, nhưng khái niệm về sa mạc thì hoàn toàn xa lạ. Chúng tôi rời California để đi vào sa mạc, đến với tiểu bang Nevada và tới thăm thành phố Las Vegas – thành phố nổi tiếng về các sòng bạc được pháp luật Mỹ công khai cho phép các công ty khai thác. Từ Los Angeles đi Las Vegas xa 436km, khoảng hơn bốn giờ xe chạy. Chúng tôi đi xuyên qua sa mạc mênh mông cát trắng. Chỉ những cây cỏ phù hợp địa hình sinh thái sa mạc khô cằn mới mọc nổi. Đang mùa hè thiếu nước nên sa mạc trắng lác đác những cây cỏ, tạo nên một mầu xanh. Mùa xuân về, những cỏ dại kia nở hoa sặc sỡ, biến sa mạc thành vườn hoa thiên nhiên bát ngát xinh tươi. Đặc thù của sa mạc là những cây xương rồng, bất ngờ với chúng tôi vì những cây xương rồng to như mái nhà, vượt lên thành như cây cổ thụ , thống trị khắp miền sa mạc. Cứ khoảng hơn một giờ xe chạy lại có một trạm dừng chân. Trạm thứ nhất vì gần California nên sầm uất như một khu thương mại. Điểm thứ hai đi sâu vào sa mạc, chỉ đơn giản để du khách vào restrooms, ngồi nghỉ tại các bàn ghế picnic dưới những mái che đơn giản. Những con sáo to như chim câu Việt Nam đã quen với du khách, quanh quẩn ăn những mẩu bánh du khách vất cho. Lại một lần nữa, chúng tôi cảm phục môi trường sinh thái của các nước Âu Mỹ nói chung. Ở nơi sa mạc này, chúng tôi được nhìn thấy một vài sắc dân da đỏ, ngồi bán đồ hàng trang sức mà chủ yếu là dây đeo các loại cho du khách.

    Xe đã đưa chúng tôi tới Las Vegas. Một thế giới thu nhỏ hiện ra trước mắt chúng tôi. Dưới bóng chiều hừng hực nắng của vùng sa mạc, những kiến trúc Âu Mỹ như được hội tụ nơi đây. Chúng tôi nhìn thấy những Kim Tự tháp cổ Ai Cập, Tháp  Eiffel của Pháp, Hý trường Co-li-sê của Roma, thành phố nổi Venice của Ý(Venetian), Quảng trường Phêrô của Vatican, tượng Nữ Thần Tự Do của New York… Khái niệm về sa mạc biến khỏi ký ức, đặc thù kiến trúc Romain, Gothic hiện ra. Không gian nghệ thuật hoà trong thế giới của ánh sáng muôn màu khiến chúng tôi như đang đi vào một chuyến du lịch xuyên lục địa, lúc thì ở Ý, lúc ở Pháp mà lại không được quên mình đang ở Mỹ.

    Theo truyền khẩu thì khoảng năm sáu mươi năm về trước, Las Vegas chỉ là một sa mạc nóng bỏng không ai qua lại, nó đã trở thành sào huyệt của những tay Mafia buôn lậu ma tuý. Câu chuyện lịch sử kể rằng: “ Có một gia đình người Ý tên ông là Bussy, vợ là Flamingo, lần kia đi qua sa mạc và nghỉ tại thung lũng này, ông đã có một tầm nhìn xa khi nghĩ rằng, nếu được đầu tư tốt, đây sẽ là một trung tâm của sòng bạc. Ông trở về hùn vốn các chủ sòng bạc và khai trương hotel giữa sa mạc nóng cháy. Kết quả là khách mời thì đến nhưng dân cờ bạc thì không. Các Mafia cờ bạc đã giết chết ông vì cho rằng ông đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Nhưng thực tế đã dần dần khẳng định tầm nhìn xa của Bussy. Khách ngày một thêm đông và những cư dân đã lập thành một làng đầu tiên naytrở thành downtown, thành phố này ngày càng mở rộng. Downtown hiện nay là làng nghệ thuật, vào các ngày thứ tư hàng tháng có tới 5000 người đổ ra đường thưởng thức âm nhạc và những nét nghệ thuật khác. Còn Las Vegas ngày nay thì đã trở thành hiện đại và quy mô nhất nhì nước Mỹđến nỗi người ta có thể nói nếu chưa tới Las Vegas thì chưa phải là tới Mỹ.

    Những chủ hãng tầm cỡ quốc tế đầu tư ngày càng nhiều, thu hút 50% dân số ở đây đi làm cho Hotel (phòng ngủ)  và Casino (sòng bạc). 50% còn lại người ta hệ thống như sau:

    - 15% làm nghề nail (làm móng tay)

    - 10% là công nhân viên chức

    - 10% là bác sĩ, kỹ sư

    - 15% còn lại làm các nghề khác.

    Chúng tôi đến với cộng đoàn Công giáo Việt Nam Las Vegas tại Đền thánh Đức Mẹ La Vang. Cộng đoàn mới kỷ niệm 10 năm thành lập 2000 – 2010. Lịch sử cộng đoàn Công giáo tại đây thấm đậm ơn lành và khắc sâu dấu ấn quan phòng của Chúa. Từ ban đầu chỉ có khoảng 40 hộ gia đình, nay đã có 367 hộ gia đình. Để đạt thành công này, những hộ ban đầu đã từng phải vất vả dự lễ chung với các nhà thờ Mỹ, họ đã thao thức xin chủ chiên về giúp họ sinh hoạt mục vụ riêng theo cộng đồng Công giáo Việt Nam. Đức cha giáo phận Las Vegas xét thấy nhu cầu còn nhỏ nên chỉ có thể sắp xếp cho một cha tuyên uý không quân về dâng lễ cho cộng đoàn. Cộng đoàn luôn phải di chuyển vì không có nhà thờ riêng. Khi cha tuyên uý chuyển đổi, cộng đoàn đã có thời kỳ kéo dài cả năm sinh hoạt mục vụ nhờ cha Robert Votta người Mỹ, xứ Mỹ. Phải đến mùa thu năm 2000,  Đức cha giáo phận Nevada mới chính thức cho cha Giuse Nguyễn Đức Trọng về làm quản nhiệm cộng đoàn. Lòng tin, cậy, mến của cộng đoàn cùng với ơn lành từ trời đã hình thành nên cộng đoàn chính thức từ năm 2000. Thành lập cộng đoàn rồi, còn phải mua đất và xây dựng nhà thờ. Cộng đoàn không đủ sức mua riêng một mảnh đất thì bỗng nhiên lại được ơn lạ của Đức Mẹ, thực hiện qua Đức cha giáo phận Las Vegas ký tặng mảnh đất của cơ sở dòng kín rộng 1,7 mẫu tây tại số 4835 Pearl St. cho cộng đoàn. Ngày 14/10/2001, nhiều nước mắt cảm động đã chảy ra khi Đức cha giáo phận Las Vegas là Joseph A. Pepe đến làm phép khu đất và đặt viên đá đầu tiên, tuy vậy phải hai năm sau Đền thánh Đức Mẹ La Vang mới được khánh thành, thánh lễ đầu tiên được cử hành vào ngày 03 / 08 / 2003.

    Xây được khu Đền thánh, nhân kỷ niệm một năm thánh hiến  Đền thánh, cha giám đốc đã cho mở Đại hội Thánh Mẫu với chủ đề “Vào sa mạc với Mẹ La Vang”. Đại hội được Đức cha Joseph A. Pepe chủ sự lễ khai mạc, Đức cha Dominico Mai Thanh Lương, giám mục phụ tágiáo phận Orange, California  chủ sự rước kiệu. Đại hội quy tụ 3500 giáo dân, rước kiệu qua ba khán đài biểu trưng cho ba giáo tỉnh Hà Nội - Huế - Sàigòn. Khung cảnh cảm động này đã dẫn đến quyết định phải nới rộng bãi đỗ xe. Mua được mảnh đất 350,000. USD được coi là ơn riêng của Chúa dành cho cộng đoàn bé nhỏ. Họ đóng góp được 200 ngàn, Toà Giám mục cho vay 150 ngàn. Mảnh đất này được coi là khu đất nổi nguyên thuỷ của vùng Las Vegas.  Đại hội Thánh Mẫu lần hai với chủ đề “Ánh sao sa mạc” tiếp tục được diễn ra. Đức cha Daniel Walsh, Đức cha Vũ Duy Thống, cha Phêrô Nguyễn Khảm, nay là giám mục phụ tá giáo phận tp Hồ Chí Minh cùng gần 30 linh mục, phó tế, tu sĩ và khoảng 5000 giáo dân từ khắp nơi về tham dự.

    Đại Hội Thánh Mẫu lần thứ ba với chủ đề: “Sa mạc tình yêu” với sự tham dự của bốn Đức cha: Đức cha Dominico Mai Thanh Lương, Đức cha Joseph A. Pepe giám mục giáo phận Las Vegas, Đức cha Daniel Walsh, giám mục giáo phận Santa Rosa, California, cùng trên 30 linh mục, phó tế,  đông đảo tu sĩ nam nữ và trên 8.000 giáo dân từ khắp nơi về tham dự. Đại hội để lại ấn tượng trong lòng người tham dự. Cha giám đốc Đền thánh Giuse Nguyễn Đức Trọng đã lưu lại mấy vần thơ:                                                 

    Mẹ đã đến, Mẹ La Vang
    Hoan hô, vạn tuế ! rộn ràng chuông reo.

    Giấc m
    ơ thân phận bọt bèo

    B
    ãi hoang hoa cát cuộn leo Linh đài

    Mẹ chung gánh nặng hai vai 

    Trên ngai thánh hiến, an bài đàn con.   

    Đầu tháng 01/2011,  cha Giuse Nguyễn Đức Trọng nghỉ hưu. Hiện nay Cộng đoàn được đặt dưới sự quản nhiệm của cha tân giám đốc Giuse Đồng Minh Quang. Công việc đầu tiên của cha tân giám đốc là mở rộng nhà thờ, một dấu hiệu của sự phát triển. Niềm hy vọng một trung tâm hành hương mở rộng tới cấp quốc gia đang được hình thành. Không phải vì Đền thánh Mẹ La Vang Las Vegas phô trương mình, mà vì khắp nước Mỹ và du khách các châu lục trên thế giới đang tuốn về Las Vegas.

    Nói đến Las Vegas là nói đến các casino ( sòng bạc) đến nỗi người ta có thể gọi chung là hotel-casino. Khái niệm về sòng bạc cũng khác với Việt Nam. Canh bạc đỏ đen không ở con bài mà là vận đỏ đen của người chơi với chủ. Vì tất cả đều do máy làm việc. Mỗi Casino có tới hàng ngàn máy để mỗi người tự chọn máy cho mình, kể cả hình thức thứ hai là chia bài, dù là ba người một bàn thì cũng là chơi với chủ (company) chứ không sát phạt nhau . Hình thức đánh bạc tương tự như sổ số ở Việt Nam. Bạn bỏ tiền vào máy và nhấn nút bật máy, mọi bước tiếp theo do máy đã lập trình sẵn. Kết quả cuối cùng là máy xổ tiền ra hoặc bạn được mời gọi bỏ tiền chơi tiếp. Các chủ sòng bài đã cài đặt để máy theo lập trình vận hành. Trong khoảng bao nhiêu thời gian thì máy xổ tiền ra, và máy giữ tiền lại 60% hay 70% hoặc 80% đã được thử nghiệm trước cho từng máy. Không phải người chơi không biết, nhưng có đến hàng ngàn máy hoạt động cùng lúc thì người ta chỉ còn phó cho may rủi. Ai cũng mong mình mở máy vào đúng giờ máy sổ tiền, nhưng có người bỏ tiền liên tục trong một máy từ một USD lên tới 10,000 USD mà “phận rủi” vẫn chẳng thu được gì. Đã có những người dân than phiền mất nửa gia tài, những gia đình tan nát chia tay nhau vì casino ở Las Vegas. Đúng là đánh bạc dù lạc hậu hay hiện đại cũng vẫn là cờ bạc đỏ đen !

    Chúng tôi chỉ đến Las Vegas theo tính cách du lịch nên cứ xuyên qua các sòng bạc để đi thăm cảnh đẹp và phong cách kiến trúc của các Hotel và Casino. Mặc dù thế chúng tôi chỉ có thể đi thăm một vài Hotel nổi tiếng nhất vì có tới hơn 100 Hotel-Casino ở Las Vegas này. 

    Chúng tôi đến xem Flamingo Hotel, vì đây là Hotel đầu tiên tại vùng này. Nó mang tên người vợ của ông Bussy, người đã có tầm nhìn xa về Las Vegas. Vì là người Ý nên kiến trúc bên trong mang đậm phong cách kiến trúc Ý. Phong cách kiến trúc này còn thể hiện rõ hơn ở Hotel Caesar Palace, Venetian Hotel. Những vòm cuốn Roma, những hoa văn mang đặc thù của một dân tộc đậm đà bản sắc tôn giáo và nghệ thuật. Người ta gặp thấy những dome khổng lồ mà dưới mỗi vòm mái rực rỡ đều vẽ những bức ảnh mang phong cách hội hoạ Ý. Những bức tranh lớn dưới vòm mái này khiến ta nhớ tới Michael Angelo, nhà điêu khắc thiên tài Ý. Không phải người ta hoạ lại những bức tranh của ông, nhưng là học phong cách hội hoạ của ông vẽ trên các trần nguyện đường Saint Sixtine tại Đền Vatican.  Khung mái toả đều tựa lực trên những cột đá vững chắc. Chỉ có ở đây mới có trụ cột bằng đá thật. Hầu hết các hotel ở Las Vegas đều bằng tôn bọc ngoài khung sắt hoặc theo công nghệ trát ximăng bọc cốt gỗ như kỹ thuật xây dựng ở California. Người ta đã nhận xét lịch sử Las Vegas là không lịch sử (history no history) vì các hotel thay đổi mode liên tục nhằm đáp ứng thị hiếu của khách thập phương. Kỹ thuật dựng khung sắt cho phép tháo dỡ nhanh chóng cả một hotel lớn hoặc thay đổi cấu trúc trong một thời gian rất ngắn. Nhìn chung kiến trúc Roma vẫn là một phong cách mỹ thuật nhất. Người ta gặp thấy ở đây những cột tượng đài cao lớn, những quảng trường và dome tròn hoạ lại bóng hình của Quảng trường thánh Phêrô, của hý trường Coliseum, khải hoàn môn của Caesars, tượng đá của Caesars, tượng ngựa bay nghệ thuật, những nền nhà mầu sắc theo thị hiếu lát nền đá tại các đại hoàng đài Roma…Tại hotel Venetian, người ta nhìn thấy cả thành phố trên biển, những con sông chảy qua giữa hai dãy phố và cây cầu vắt ngang duyên dáng, ngọn tháp Đền thờ thánh Marco cao sừng sững…Những hotel phong cách Ý vẫn luôn thu hút khách du lịch và giới thượng lưu. Có lẽ vì chúng tôi đã trực tiếp được chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc tại Roma và Venise nên nhận ra những nét nghệ thuật và địa danh khá nhanh mà… đi lướt qua cũng khá nhanh !

    Vì đã được lên đến đỉnh tháp  Eiffel và đứng dưới chân khải hoàn môn tại Pháp, nên cũng một cung cách nhận nhanh và lướt nhanh như vậy, chúng tôi đến với Hotel Paris Las Vegas. Đặc thù tiêu biểu của hotel này là ngọn tháp Eiffel.  Nguyên bản, tháp Eiffel được xây dựng từ năm 1889, nó đã trở thành một biểu tượng toàn cầu của Pháp và một trong các cấu trúc dễ nhận biết nhất trên thế giới. Ngọn tháp cao 324m, sử dụng 18.038 thanh sắt và 2.500.000 đinh tán. Tại Paris Hotel Casino, tuy là tượng trưng, nhưng ngọn tháp này cũng vẫn đủ sử dụng hai tầng dưới làm nhà hàng giải khát sang trọng. Khi màn đêm buông xuống, điện rực sáng ngọn tháp và khoe mình với không gian tráng lệ. Ánh sáng toả ra từ khải hoàn môn (Triomphe) từ các loại đèn trang trí vốn là nét truyền thống của Paris – kinh thành ánh sáng.

    Với Bellagio Hotel thì nét độc đáo là nhạc nước  - nước được trào lên từ hàng ngàn những tia nhỏ, đan kết thành những mành nước vừa mỹ thuật, vừa kỹ thuật. Khi thì hình vòng cung, khi hình tròn, lúc dựng đứng như hình nốt nhạc, khi lại mềm mại như những vũ nữ, đôi lúc tạo hình tầng tầng, lớp lớp như những cánh buồm… điều đặc biệt là tốc độ đan kết của nước phù hợp với độ mạnh, nhẹ cao thấp của bản nhạc không lời, vừa hùng tráng lại vừa mịn màng nên thơ.

    Hotel MGM  thì lại nổi bật dáng dấp những Kim tự tháp Ai Cập, những con “Nhân sư” bằng đá khổng lồ và đặc biệt là một sáng tác: “Nhân Honda” hiện đại ! gương mặt người phụ nữ ngẩng cao như đầu nhân sư. Tóc xoã dọc theo thân xe, hai chân cách điệu đặt theo vị trí ống bô (beaux), thân  người chính là thân xe máy !

    Đến với Planet Hollywood Hotel là đến với tên tuổi của những ngôi sao tài tử nổi tiếng của nước Mỹ với khu shopping mall dài hàng km những công trình kiến trúc lạ lùng dưới bầu trời của Hollywood thật khó phân biệt thực giả. Những toà nhà biệt thự cổ kính, sang trọng trở nên cao vút dưới vòm trời nhân tạo. Vào những giờ cố định, mưa bão nhân tạo khiến nhiều người ngửa tay hứng nước mưa, nhưng họ chỉ hứng được những tiếng cười, vì sấm chớp là do ánh điện, mưa dưới hồ do phun nước ! Có lẽ thành công lớn nhất là người ta tưởng mình như đang đi dưới bầu trời Âu châu.         

    Chúng tôi được chị Yến, người đồng hương (Phát Diệm), dẫn đi và chị Mai là giáo lý viên của Cộng đoàn Mẹ La Vang Las Vegas khoản đãi ăn tiệc buffet tại hotel này. Thay vì mỗi bàn thực đơn thông thường thì ở đây đồng thời cũng là giới thiệu nét văn hoá ẩm thực của từng nước. Chúng tôi đến từng bàn và lấy món ăn của Ý, của Mễ -tây-cơ (Mexico) của Ai-len (Island) Trung Quốc, Hàn quốc… Đúng là một bữa tiệc quốc tế !

    Buổi tối chúng tôi đi xem (show) diễn ở Ballys Hotel Casino. Phong cách Mỹ mạnh mẽ và hiện đại chính ở nét nghệ thuật trong các show diễn này. Chị Mai đã nhấn mạnh với chúng tôi: “Các cha đi xem thì chỉ nên để ý đến mỹ thuật và kỹ thuật của nó thôi”.

    Đúng là một kỹ thuật hiện đại. Người ta đưa cả câu chuyện Samson của Kinh thánh Cựu Ước lên sàn diễn. Hình thức diễn thiên về nghệ thuật dung tục nhưng kỹ thuật hiện đại thì không nước nào sánh kịp. Đặc biệt với màn trình diễn về vụ đắm tàu Titanic, hàng chục phông cảnh được dựng lên hiện đại: Khi thì cả con tàu Titanic, khi thì cận cảnh từng khoang máy. Ánh sáng và kỹ thuật laze tạo nên những màu sắc rực rỡ, khi là bầu trời ánh sáng, khi là khoang tàu sang trọng, cảnh con tàu xô tảng băng lớn và bị phát nổ chìm dần… Toàn  cảnh được điều khiển bằng điện tử thả xuống từ trên hoặc đẩy lên từ dưới chỉ trong khoảng từ năm đến mười giây.  Những trang phục quý phái, những thời trang lộng lẫy…

    Chúng tôi còn được cha Giuse Đồng Minh Quang tân giám đốc Cộng đoàn Công giáo Việt Nam Mẹ La Vang Las Vegas bao vé đi xem show diễn ảo thuật. Những màn trình diễn ngoạn mục chứng tỏ khả năng diễn xuất điêu luyện của các tài tử ở Mỹ, cùng với kết hợp kỹ thuật ánh sáng và điện tử, khiến chúng tôi chỉ biết cảm phục mà hết lời bình !.

    Chúng tôi rất tiếc đã không đủ thời gian để đi thăm Hoover Dam, một đập nước không chỉ quy mô về kỹ thuật hiện đại mà còn trở thành nơi du lịch cho khách thập phương. Vì chính nhờ đập Hoover Dam này mà nguồn nước trước đây thường gây ngập lụt cho cả hai tiểu bang Arizona và  Nevada nay lại trở thành nguồn cung cấp nước và điện cho sa mạc cháy bỏng Las Vegas trù phú ngày nay.

    Người ta nói đập Hoover như là một thách thức đối với mọi lý giải. Hãy hình dung chiều cao của nó là 700 feet = 230m hình vòng cung, nối liền hai ngọn núi và tạo thành hồ lớn giữa lòng khe núi.  Mặt đê chạy dài 400m, độ dày của chân đê là 220m thu dần lên mặt đê còn rộng 21m,  nước hồ sâu 15m. Công trình khởi công năm 1933, hoàn thành năm 1935, hiện cung cấp 4,2 tỉ kw/h mỗi năm, được coi là một trong những thiết kế lớn đứng trong bảy kỳ quan lớn nhất của Nước Mỹ.

    Tạm biệt Las Vegas còn có cái tên “Sin City”, chúng tôi vẫn còn nghe như vẳng lại lời cha giám đốc Giuse Đồng Minh Quang: “Cái thành công lớn nhất của Las Vegas này là người ta đã biến trung tâm Mafia cờ bạc trở thành nơi du lịch và tạo công việc làm cho nửa triệu dân”.  

    ĐÀI THIÊN VĂN CALIFORNIA

    Bù lại cuộc lỡ duyên với Hoover Dam, chúng tôi lại được đi thăm GRIFFITH OBSERVATORY - Đài  thiên văn GRIFFITHđịnh vị trên đỉnh cao nhất của bang California. Một tượng đài đã được dựng lên ngay giữa quảng trường mặt tiền của Đài thiên văn. Sáu nhà bác học lớn được tạc tượng đứng thành hình khối nâng cao trái đất và quỹ đạo mặt trăng.

    Sáu nhà bác học đó là:

    Newton (1642-1727), Herschel (1738 – 1822),  Hipparchus (160 -123 Tr CN),

    Copernicus (1473 – 1543), Galileo (1564 – 1642), Kepler (1571 – 1630).

    Một kho tàng kiến thức về vũ trụ được thể hiện trong Đài thiên văn. Những thành tựu khoa học lớn của các nhà bác học danh tiếng thế giới, những mô hình, sự kiện, nhân vật…Chúng tôi dừng lại trước ảnh của nhà du hành vũ trụ Buzz Andrin đi trong con tàu vũ trụ Appolo 11, đang đặt bước chân đầu tiên của loài người lên mặt trăng ngày 20 / 07 / 1969. Ở trung tâm Đài thiên văn, người ta đo được độ chuyển dịch của trái đất trên từng cm, những hình ảnh thực tế đang diễn ra được truyền về trái đất từ vệ tinh…Nhưng đặc biệt sống động hơn là chúng tôi được xem màn trình chiếu về nguồn gốc vũ trụ và trái đất theo nghiên cứu của khoa học. Hàng mấy trăm khán giả có cảm giác như mình đang bay thật và đi vào không gian vũ trụ, đi xuyên qua dòng thời gian và bồng bềnh ngắm nhìn các tinh vân, các giải ngân hà. Kỹ thuật điện ảnh hiện đại kết hợp với phát minh khoa học cho từng lượt người xem những show diễn thật ngoạn mục và tri thức khoa học.

    HOLLYWOOD

    Chúng tôi trở về với Hollywood, điểm hẹn lý tưởng đã được mơ ước từ Việt Nam. Đi qua làng Hollywood, một thành phố toạ lạc trên đồi, chúng tôi được đi sâu vào trường quay (studio) với diện tích 8km2 , lớn hơn diện tích xã Lưu Phương, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Vietnam – địa danh có Nhà thờ đá Phát Diệm – vì diện tích xã Lưu Phương chỉ có 6,45km2.

    Hollywood được thành lập như là một thành phố vào ngày 14 tháng 11năm 1903. Đến năm 1920, Hollywood đã trở thành trung tâm của ngành công nghiệp điện ảnh Hoa Kỳ nổi tiếng thế giới.

    Năm 1985, Đại lộ Hollywood thương mại và khu vui chơi giải trí đã được chính thức liệt kê trong sổ đăng ký quốc gia về di tích lịch sử bảo vệ công trình quan trọng.

    Chúng tôi lên tàu đi một vòng xuyên qua các điểm đóng phim của những bộ phim nổi tiếng sản xuất tại Hollywood. Tàu dừng lại thuyết trình trực tiếp đồng thời màn hình trên tàu cũng trình chiếu những pha đã đóng trong phim. Quả là một trường quay số một thế giới. Chúng tôi có cảm giác được đi qua thành phố, rừng núi, thác lũ, biển cả…Tất cả đều là kịch trường do kỹ thuật điện tử và sáng tạo khoa học kết hợp với thiết kế mỹ thuật tạo nên. Những dãy phố cổ tuyệt đẹp nhưng chỉ có mặt tiền. Biển có cả cá mập nhưng thực tế chỉ là một hồ nhỏ. Hai ô tô đua tốc độ, bẻ quặt tay lái, chồm lên lao xuống…tất cả chỉ trên một trục lớn được điều khiển bằng điện tử.

    Kỹ thuật điện tử công khai còn biến khán giả thành diễn viên trong vài phút. Những em bé hay quý ông quý bà hoặc một nhóm nhỏ được mời lên sân khấu, họ vẫn vụng về ngơ ngác đúng người ngoài cuộc nhưng khi kỹ xảo điện ảnh chiếu lên màn hình, họ bỗng trở nên những diễn viên: Tất cả trở thành thuỷ thủ, em bé cũng điều khiển được vô-lăng (steering wheel) và lái tàu thuỷ đi dọc ven đảo, trên bờ đan kết những cây xanh. Thiếu nữ bỗng trở thành công chúa Ai cập,  quý ông bỗng trở thành nhà du hành vũ trụ, đi trên không trung trong điều kiện không trọng lựợng.

    Khi đeo kính xem không gian ba chiều, hình ảnh của những con khủng long khổng lồ săn đuổi nhau chấn động khu rừng, chúng chạy xô vào cả đoàn tàu khiến tàu rung lên, chúng phun nước ướt hết hành khách trên tàu. Một cảnh sống đến nỗi hành khách tưởng như mình đang ở trong rừng giữa đám khủng long, còn chúng tôi thì nghĩ mình là người đang quay phim.

    Khu nhà rợn rùng (horror house) là một kết hợp giữa kỹ xảo điện ảnh với sự giáo dục nhân bản làm tăng ý chí cho con người. Những hình ảnh ma quái, những thây ma cử động, thậm chí vồ đuổi người xem khiến ai cũng đầy cảm giác choáng ngợp, khi thì khoái chí hỉ hả, khi thì sợ hãi hét hò, khi lại run sợ lẩn tránh…

    Về những cảm giác mạnh này, phải dành lại cho Disneyland.

    DISNEYLAND

    Hãng phim Disney nổi tiếng đã chinh phục tất cả các bạn trẻ trên thế giới. Đến với Disneyland là đến với khu trung tâm của hãng phim dành cho thế hệ tương lai. Trên một diện tích rộng 160 acre (65ha), công viên Disneyland được xây dựng từ năm 1954 và hoàn thành trong 12 tháng, đến năm 1965, kỷ niệm mười năm  thành lập đã có tới 50 triệu du khách tới đây. Hiện có tới 84 địa danh và show diễn dành cho du khách, mỗi vé là 139 USD, khi đã qua cổng soát vé, bạn sẽ được tùy chọn bất cứ điểm nào, đi bất cứ phương tiện nào: tàu cao tốc MGM, tàu điện, tàu thủy, tàu ngầm, xe díp (jeep)…Mọi dịch vụ đều đã gói trọn trong tiền vé. Trẻ em về đây như ngôi nhà riêng của các em, thỏa sức ước mơ, giải trí, vui chơi. Có cả một hệ thống  mặt trời để đưa các em vào không gian trong con tàu vũ trụ chỉ đủ 2 người một tàu ! một đoàn tàu đi vòng quanh Disneyland, xuyên qua những cánh rừng với những con khủng long xuất hiện kỳ quái, tất cả được tạo nên do kỹ thuật điện ảnh. Tàu thủy đưa các em dọc theo các làng cổ ven sông, có những người đang tế thần, những tòa lâu đài cổ kính, những đàn nai ngơ ngác bên sông.  Các em có thể xuống tàu ngầm để xem cá bơi lội, cảnh đẹp như vương cung thủy tề trong truyện thần thoại.

    Chúng tôi ngồi tàu điện để đi xem Space Mountain Disneyland , một pha trình diễn kỹ thuật  về cảm giác mạnh. Những ai đau tim, thần kinh căng thẳng, cao máu được cảnh báo là không nên đi. Tàu lúc lắc cực mạnh rồi lao vào bóng tối. Có lúc lên cao như đang bay giữa ngàn sao rồi lại đột ngột lao xuống tới tận đáy vực thẳm, lúc như đi vào đường cụt rồi lại lao ra. Những chướng ngại vật chắn ngang, xe hơi bên đường bật đèn pha như sắp lao vào xe của mình. Hàng loạt những tai nạn xảy ra nếu chỉ cần một chút sai sót kỹ thuật. Nhưng tất cả đều chính xác tới từng mi-li-mét. Pha cuối cùng lắc mạnh rồi lao xuống hun hút trong bóng tối dày đặc, khiến cho ai cũng cảm giác như vừa trở về từ thế giới bên kia. Chúng tôi bắt tay cha Tự, chúc mừng ngài vì “còn sống trở về”. Tôi kể cho mọi người rằng: “Tàu lắc mạnh đến nỗi cha Tự văng linh hồn ra, đến khi thu lại thì còn thiếu một mảnh, ngài phải trích lại 2kg thịt để tìm mảnh linh hồn. Đó chính là lý do giải thích tại sao ngài gầy gò như thế này đây(!)”. Mọi người hỷ hả chẳng ai tin nhưng thấy cũng có lý. Thực ra vì cha Tự sang Mỹ mà kiêng ăn đồ biển, kiêng thịt, một tuần liền hầu như không ăn được cho nên gầy sút người đi. Chúng tôi mới chợt hiểu tại sao Đức cha Giuse chúc cho chúng tôi hai chữ “thích nghi”. Vì hồi còn du học Roma, Đức cha đã bốn lần sang Mỹ nên ngài rất có kinh nghiệm.

    Có lẽ tàu ngầm là thú vị tao nhã và hấp dẫn nhất đối với chúng tôi. Lần đầu tiên chúng tôi được xuống tàu ngầm, con tàu du lịch loại nhỏ chỉ 40 ghế ngồi, du khách ngồi tựa lưng vào nhau, mắt nhìn vào ô kính lắp bên thân tàu. Mặc dù chỉ đi trong phạm vi hồ và hang núi của Disneyland, nhưng do thiết kế mỹ thuật cùng với kỹ thuật điện tử hiện đại, du khách nhìn thấy sức sống của biển khơi, từ những đàn cá cảnh quen thuộc, tôm cua biển, đến cá mập khổng lồ…Điều đáng lưu ý là tất cả diễn ra trong tiếng nhạc phim và những ai đã xem phim sẽ nhận ra nội dung của những phim nổi tiếng đã được trình chiếu, rồi bây giờ hiểu thêm kỹ thuật quay phim như thế nào.

    CORONADO

    San Diegolà tiểu bang nằm ở cực nam của Hoa Kỳ, nơi đây có một đảo nhỏ tên là Coronado. Coronado được đặt theo tên các quần đảo ngoài bờ biển San Diego. Năm 1602, đảo được đặt tên theo cách gọi Tây Ban Nha là "Los Coronados". Đảo chỉ thực sự có sức sống vào năm 1885 khi hai anh em Elisha S. Babcock Jr và Hampton L. Storey chèo thuyền đến hòn đảo này từ San Diego để săn thỏ và quyết định sẽ biến đảo này thành khu nghỉ mát sang trọng. Hotel del Coronado mở vào năm 1888. Từ sau năm 1971 các công trình kiến trúc được xây dựng. Ngày nay đảo này đã trở nên ánh hào quang của San Diego. Những toà biệt thự đã mọc lên, đảo trở nên một thành phố có đầy đủ mọi cơ chế, thành phần, môi sinh với hơn 85 di tích lịch sử được bảo trì. Đặc biệt nơi đây có một công viên nhỏ nhất thế giới. Công viên ấy chỉ có một cây duy nhất. Người dân ở đây biết rất rõ cây này, đó là cây thông có từ trước khi hai anh em đến đây lập nghiệp. Cây thông vút cao, cổ thụ và xoè tán thực đẹp. Thật ra nó chẳng khác gì so với các cây thông khác trong vùng. Nhưng để yên vị được, nó đã cần đến sự can thiệp từ Washington. Người dân ở đây có những lý do riêng để làm đơn xin chính phủ giữ lại cây này, nó đã không bị chặt đi vì quy hoạch thành phố và trở thành công viên tên tuổi.

               

    Để đi vào được đảo này, người ta đã làm cầu nối  đảo với đất liền, đó là cầu Coronado. Cầu làm bằng lực bê tông dựa trên thép dầm cầu, nối liền vịnh San Diego với Coronado thuộc tiểu bang California. Chiều cao nhất lên tới 200 feet (61m), Tàu thuỷ có trọng tải lớn đều đi qua được. Cầu cong 80 độ về hướng San Diego do đó nó vừa đáp ứng được độ cao lại vừa không quá dốc cho xe đi lên và xuống. Cầu khởi công xây dựng vào tháng 2 năm 1967, và thông đường 03 tháng 8 năm 1969, mừng kỷ niệm 200 năm thành lập của San Diego.  Cầu có năm làn đường, mỗi chiều hai làn và một làn ở giữa với một hệ thống dải phân cách di chuyển được. Ban sáng nhiều xe vào đảo nên bên phải được rộng ba làn đường, buổi chiều bên trái lại rộng ba làn đường để xe về thuận hơn. Kỹ thuật làm cho dải phân cách lòng đường có thể di dời này là một thiết kế công nghệ cao của miền bắc Mỹ.  Ngày nay cầu không chỉ là phương diện giao thông làm cho sức sống của thành phố vươn ra đảo, mà còn là một cảnh quan mỹ thuật phô diễn tiềm năng của ngành công nghiệp Mỹ.

    GOLDEN GATE BRIDGE  (CẦU CỔNG VÀNG)


    Nhưng cầu Coronado mới chỉ là khởi đầu. Chúng tôi phải nói tới cây cầu treo đầu tiên của Hoa Kỳ ở vị trí cửa ngõ vào cửa vịnh San Francisco  3136061 Thái Bình Dương. Đó là  Cầu Cổng Vàng ( Golden Gate Bridge), cây cầu nối liền thành phố San Francisco trên mũi phía bắc của bán đảo San Francisco với Marin County. Đây là cây cầu treo dài nhất trên thế giới, và đã trở thành một biểu tượng quốc tế của SanFrancisco, California, 13<Hoa Kỳ>. Kể từ khi hoàn thành đến nay đã có tám chiếc cầu khác có chiều dài vượt  Cầu Cổng Vàng. Tuy thế, nó vẫn là cây cầu treo dài thứ hai ở Hoa Kỳ, sau cầu 1Verrazano-Narrows  New York. Vào năm 2007, nó đã được xếp hạng thứ năm trong danh sách những kiến trúc Hoa Kỳ được yêu thích do Viện Kiến trúc sư Hoa Kỳ bầu chọn.

    Chúng tôi đã chụp ảnh trước tượng của  Strauss, người thiết kế cầu Golden Gate và đi qua cây cầu có chiều dài8.981 foot (2.737m)  rộng 90 foot (27m). Tính từ mặt nước, cây cầu có độ cao 746 foot (227m). Đứng từ cầu nhìn xuống eo biển sâu thẳm vì gầm cầu có độ cao là 220 foot (67m). Ngồi trong xe ngửa mặt nhìn lên không thấy hết chiều cao của hai trụ chịu lực vì hai trụ này tính từ mặt cầu lên đã cao tới 98m. Ánh sương mù bao toả cây cầu khi tỏ khi mờ, từ xa nhìn cây cầu như thấp thoáng trên mây. Thực là một cảnh đẹp thơ mộng và xứng đáng là dấu ấn của công trình thế kỷ. Cầu được khởi công vào ngày 05 tháng 1 năm 1933, khánh thành vào ngày 27/05/1937. Qua Cầu Cổng Vàng, chúng tôi đến thăm gia đình anh chị Nguyễn Văn  Chính – Quỳnh Liên, ngôi nhà toạ lạc ở vị trí có thể soi mình trên mặt vịnh vừa thanh tĩnh vừa thoáng mát quanh năm. Chính anh chị cho chúng tôi đi một vòng mũi phía bắc của bán đảo San Francisco. Khung cảnh của một buổi chiều êm ả làm nổi bật 50 toà nhà hải cảng đua mình trên mặt vịnh. Hàng trăm những thuyền buồm cánh trắng san sát trên vịnh sẵn sàng đón khách du lịch. Một vài chiếc còn bồng bềnh ngoài khơi như trìu mến cảnh hoàng hôn trên biển. Cánh buồm dập dìu theo hướng gió và theo ý của du khách tưởng như chưa muốn cập bờ…

    Ở San Jose, chúng tôi cũng đã được gặp những tâm hồn nhiệt huyết tông đồ, những người con gốc quê hương Phát Diệm thân yêu, đã và đang đem hết tâm lực cống hiến cho Giáo Hội, cho sự phát triển và hội nhập văn hoá Tin Mừng. Đó là thầy nhạc sư Phạm Đức Huyến, cha Gioan Trần Công Nghị, cha Giuse Maria Nguyễn Xuân Hương, anh Nguyễn Long Thao. Niềm vui gặp mặt tuy ngắn ngủi nhưng nghĩa tình lớn lao. Niềm vui và nghĩa tình ấy lại trở thành động lực thúc đẩy mỗi người dấn thân nhiều hơn nữa, cống hiến nhiều hơn nữa vì tình yêu Nước Chúa, vì Giáo hội Việt Nam thân yêu.

    MISSOURI

    Chúng tôi rời miền nam California, đi sâu vào trung tâm nước Mỹ, đến tiểu bang Missouri để dự Đại hội Thánh Mẫu được tổ chức hàng năm tại Carthage. Hành trình của chúng tôi dài khoảng 2.600km, từ tiểu bang California xuyên qua các tiểu bang Nevada, Arizola, New Mexico, Texas, Oklahoma theo đường freeway 40, đường liên tiểu bang xuyên suốt đông tây nước Mỹ. Không có khái niệm lồi lõm, càng không biết ổ gà là gì. Xe bus chạy tốc độ trung bình 90km/h. Hai bên đường cỏ được cắt ngắn mịn màng, không đám cỏ hoang. Nếu ở Âu châu bạn thấy một màu trắng của tuyết trải dài trước mắt, thì ở đây là những thảm cỏ xanh mở rộng tầm nhìn đến hút mắt. Người nông dân tuân thủ luật pháp không dám để cỏ hoang, nếu không giữ được cỏ sạch sẽ, phần đất ấy sẽ được chia cho người khác. Xe chúng tôi dừng nghỉ đêm tại một hotel bên đường, vì luật không cho phép xe chạy liên tục quá 1000km. Không ai kiểm soát nhưng người dân tự giác tuân phục. Họ giữ luật vì luật bảo vệ sự sống cho họ, họ tâm sự với chúng tôi: “Ở Mỹ có hai cái sợ trong đời, một là sợ chết, hai là sợ luật !”

    Trong góc độ hẹp là nhìn vào đoàn hành hương trên xe, chúng tôi đã cảm nhận được phần nào ý thức cộng đồng của người công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Công bằng và bác ái rất rõ ràng:

    - Ai đi hành hương cũng tôn trọng trật tự, ngồi đúng thứ tự đăng ký, xếp hàng lên xe xuống xe không ồn ào, chương trình giờ giấc rõ ràng, không ai sai phạm nội quy về thời giờ, giữ vệ sinh trên xe, trên đường phố. Tôn trọng người già, trẻ em, tôn trọng tự do cá nhân mỗi người. Việc thiêng liêng với Chúa không thiếu sót: đọc kinh sáng và tối, nguyện kinh Truyền Tin buổi trưa, làm giờ lòng thương xót lúc 3 giờ chiều.

    - Trong khi tiêu tốn hàng ngàn đô-la cho một cuộc hành hương, họ vẫn nhớ tới người nghèo. Chính chúng tôi cũng  là đối tượng được hưởng lòng bác ái của đoàn. Họ bao cho chúng tôi tiền vé, tiền ăn uống nghỉ trọ hotel, lại sẵn sàng giúp đỡ mọi sinh hoạt nhỏ nhặt nhưng tinh tế của xã hội văn  minh,  chia sẻ khẩu phần ăn uống tự túc đi đường. Chúng tôi rất cảm động khi thấy cha Phêrô Nguyễn Văn Tuyên, chính xứ Tam Biên, trưởng đoàn hành hương, kêu gọi mọi người thu gom từng vỏ chai nước trên xe để bán lấy tiền giúp người nghèo. Thầy Thuận, tu sĩ dòng Phanxicô khó khăn còn thu gom vỏ chai nước ở các lán hành hương và đã từng bán được hàng trăm đô-la giúp đỡ người nghèo. Cử chỉ bác ái, nếp sống tiết kiệm và thực dụng của mọi người khiến chúng tôi thật khâm phục. 

    Chiều 04/08/2011, chúng tôi đã tới Carthage. Carthage là thành phố ở Jasper County, Missouri. Dân số theo thống kê năm 2010 là 14.378 người. Tại đây có Đền Đức Mẹ thuộc đại học Ozarks từ năm 1941 – 1971, ngày nay đã trở thành Tỉnh Dòng Đồng Công. Hàng năm Tỉnh dòng tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu, hàng chục ngàn người từ khắp nơi tụ về. Đại Hội Thánh Mẫu Carthage Missouri năm nay là Đại Hội lần thứ 34.

    Đức Cha James V. Johnston, Giám mục giáo phận Springfield chủ sự lễ khai mạc trọng thể, có sự hiện diện của Đức Cha Tri Bửu Thiên, Giám mục giáo phận Cần Thơ. Khoảng 200 Linh mục Việt Nam và ước khoảng 50.000 người đã hội tụ nơi đây để tham dự ngày khai mạc Đại Hội. Ngày thứ ba, ngày rước kiệu tượng Đức Mẹ được coi là cao trào của Đại Hội, có thêm Đức tổng Giám mục Gregory Aymond, tổng giáo phận New Orleans và một giám Việt Nam là Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước phó Giám mục giáo phận Phú Cường. Bốn giám mục cùng với 200 linh mục, đông đảo tu sĩ nam nữ và khoảng 70.000 giáo dân đã tham dự đoàn rước. Tượng Đức Mẹ ở đây là một trong bẩy pho tượng lấy từ ngành sồi Pha-ti-ma và do Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII làm phép năm 1962. Đoàn rước đi qua bốn đường phố khép lại thành hình ô bàn cờ và trở về lễ đài. Dọc đường có hệ thống loa nén treo trên các cột góc phố, Tiếng hát của liên ca đoàn trầm ấm, dìu dặt vang ca các bài hát về Mẹ, hoà hợp với đoàn hành hương vừa đi vừa lần hạt Mân côi. Vào đúng lúc bắt đầu rước thì trời mưa, mưa ào rất nhanh rồi tạnh hẳn, nhiều người khóc vì thấy khung cảnh cảm động: thiên thời – địa lợi – nhân hoà. Chính ông thị trưởng thành phố cũng bày tỏ niềm cảm phục trước tinh thần hy sinh của giáo dân, vì họ không ngại nắng mưa, chẳng quản đường xa về đây dự Đại hội với một tinh thần hiệp nhất, yêu thương rất tuyệt vời. Tượng Đức Mẹ tiến vào lễ đài trong tiếng pháo dòn giã, trong rừng cờ và tiếng vỗ tay. Cuộc rước kiệu kết thúc trong nghi thức thả bóng bay rực rỡ sắc màu giữa một khoảng không gian nhuộm thắm bóng chiều êm ả.

    Thánh lễ đại trào luôn đan kết tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Trên lễ đài dâng lễ đồng tế, nhiều lúc chúng tôi cảm tưởng như đang dâng lễ tại Việt Nam. Khung cảnh những người con Việt Nam có ngày hội tụ dưới bóng Mẹ thật đầm ấm và an vui. Họ về đây để cộng hưởng sức sống đức tin, để hoà giải với Thiên Chúa và anh em, để trau dồi thêm giáo lý. Những toà giải tội luôn đề rõ ngôn ngữ: Vietnamese (tiếng Việt Nam), hoặc only English (bằng tiếng Anh) để linh mục và giáo dân tự lựa chọn.

    Vấn đề ngôn ngữ tiếng Việt cũng đang là một vấn đề lớn được phổ cập trong cộng đồng người Việt. Đi đâu chúng tôi cũng thấy thông báo ngày giờ đăng ký lớp học hè về Việt ngữ và giáo lý. Đây là một trong những sinh hoạt quan trọng của cộng đồng người Việt Nam để sống đức tin và giữ gìn bản sắc dân tộc.

    Đại hội đã bế mạc, mọi người ra về trong niềm vui và ơn phúc. Vẫn những đoàn xe nối nhau, không một tiếng còi, không một tiếng huyên náo…

    Lm. Phêrô Hồng Phúc

    Số lượt xem: 7606 Gửi cho bạn bè      In trang này
    >> CÁC TIN KHÁC
     

     

    Tòa giám mục Phát Diệm
    75 Phát Diệm Đông – Kim Sơn – Ninh Bình
    ĐT: 02.293.862.058 – Fax: 02.293.862 724
    Email: tgmpdiem@gmail.com

    Ban biên tập
    Email: bbt@phatdiem.org
            Copyright 2011
    Tòa giám mục Phát Diệm
    Loading ...