Trang chủ > MỤC VỤ > Chuyện mục vụ

Chuyện mục vụ

Bên đường thiên lý - ký sự (Kỳ 3)

Lm. Phêrô Hồng Phúc | 21:37 | 25/09/2011

Thưa Mẹ,Con chưa một lần đi Mỹ, Chỉ biết đất nước ấy qua bản đồ thế giới,Qua hình ảnh báo chí và mạng lưới thông tin. Nhưng lạy Mẹ, hôm nay một phần đất Mỹ. Đã đánh động trái tim con.

    TIỂU BANG TEXAS

    Chúng tôi lại theo đoàn hành hương khác đi thăm tiểu bang Texas. Đây là đoàn hành hương thuộc giáo xứ Các thánh Tử đạo Việt Nam, Houston, Texas. Vẫn những tình thân thiện, nghĩa cử công bằng bác ái và những chia sẻ thẳng thắn chân thành. Anh Nguyễn Văn Triệu trưởng đoàn hành hương đặt cho chúng tôi câu hỏi: Các cha sang bên Hoa Kỳ thấy nếp sống bên này thế nào?. Chúng tôi lần lượt đưa ra những nhận xét:`

    - Nhờ môi trường văn hoá xã hội, dân trí ở đây phát triển cao. Người nào cũng có xe hơi riêng và tự lái, ai cũng giao tiếp được bằng tiếng Anh. Người Việt Nam đi đâu cũng dễ hội nhập và phát triển.

    - Ý thức nhân bản tốt, từ những hành vi nhỏ như  get in line (xếp hàng), đi sâu vào nếp sống xã hội trở thành  tôn trọng luật pháp. Việc chấp hành luật giao thông nghiêm ngặt là biểu hiện dễ thấy về ý thức trật tự xã hội: không gây lộn, gian dối. Việc giữ sạch rác mọi nơi mọi lúc, môi trường thoáng đãng, tạo tiền đề cho tính tình cởi mở thân ái dễ giúp đỡ mọi người.

    - Người công giáo Việt Nam giữ đức tin tinh ròng trong Hội thánh công giáo, luôn mến yêu và vâng phục bản quyền giáo hội địa phương, vâng phục Đức giáo hoàng. Cộng đồng người Việt dễ quy tụ về bên nhau, riêng người công giáo còn có tiếng nói chung là yêu thương. Trong một thế giới văn minh vật chất dễ rơi vào hưởng thụ và ăn chơi, người công giáo tìm thấy giá trị Nước Trời để vượt lên tìm hạnh phúc thanh cao. Đó là hạnh phúc thật.

    Xe chúng tôi đã tới Sherman thuộc thành phố Dallas. Đoàn hành hương bùi ngùi kể lại cho chúng tôi nghe biến cố đau thương cách đây vừa tròn 3 năm, ngày 08/08/2008, trên một chuyến xe bus chở bốn giáo xứ Các thánh Tử đạo Việt Nam, Lộ Đức, La Vang và Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể đi hành hương Đại hội Thánh Mẫu Missouri, trên freeway điểm exit 58, xe bị lật nghiêng làm 17 người chết và rất nhiều người trọng thương. Giáo xứ Các thánh Tử đạo Việt Nam còn nhớ mãi hình ảnh bi thương năm linh cữu cùng lúc quàn  tại nhà thờ trong thánh lễ an tang này.

    Nhà thơ Xuân Ly Băng đã cảm thán trong những vần thơ:

    Thưa Mẹ,

    Con chưa một lần đi Mỹ,

    Chỉ biết đất nước ấy qua bản đồ thế giới,

    Qua hình ảnh báo chí và mạng lưới thông tin.

    Nhưng lạy Mẹ, hôm nay một phần đất Mỹ

    Đã đánh động trái tim con.

    Sherman, ngày thứ sáu…

    Con cái Mẹ đã ra đi trong một tai nạn thảm khốc đến kinh hoàng.

    Họ đi đâu?

    Họ đến với Mẹ Missouri.

    Con biết nói gì với Chúa? Con biết thưa gì cùng Mẹ ?

    Khi chiếc xe định mệnh đã nuốt chửng đoàn con.

    Thân xác nát tan, hết còn là chi thể.

    Bao nhiêu người chết? Bao nhiêu kẻ trọng thương?

    Giập gãy và máu me lênh láng.

    Họ là ai? Là con cái Mẹ.

    Trong một hành trình lịch sử      

    Họ đang tìm về với Mẹ, Mẹ ơi !

    Con hỏi Mẹ: Mẹ ở đâu?

    Trong phút giờ vô cùng đau đớn của đoàn con Mẹ, Mẹ ơi !

    Thoạt nghe như mang dáng dấp của lời ta thán, nhưng đặt mình trong bối cảnh đau thương, ta hiểu tác giả đã nói thay tiếng nấc nghẹn ngào của bao gia đình thưa với Mẹ, như Chúa Giêsu đã thưa với Chúa Cha trên cây Thánh Giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”(Mt 27,26).

    Chúng tôi cùng đoàn hành hương đọc kinh trầm lắng, cầu cho linh hồn các nạn nhân. Những cây Thánh giá cắm vội bên đường vẫn còn đấy, đau thương và hy vọng hoà quyện. Làn giao thông như dòng chảy cuộc đời, đoàn xe vẫn tiến lên, mảnh đất đau thương lùi dần về phía sau … Xe chúng tôi dừng tại sân Nhà thờ giáo xứ Các Thánh Tử đạo Việt Nam. Thật là linh thiêng vì ngày mai chúng tôi được đồng tế với cha Giuse Vũ Thành, linh mục chính xứ, vào đúng ngày giỗ mãn tang của các nạn nhân: 08/08/2008 - 2011. Hình ảnh năm linh cữu một lúc tại nhà thờ này lại hiện lên trong tâm trí chúng tôi.

    Linh diệu nữa là chúng tôi được đặt chân lên mảnh đất mà những ngày này, từ 07 – 09/08/2011 Đức Hồng Y Carlos Amigo Vallejo, nguyên Tổng Giám mục Seviglia, đặc sứ của Đức Giáo Hoàng đang chủ sự các lễ nghi bế mạc Năm thánh 500 năm thành lập các giáo phận đầu tiên tại châu Mỹ Latinh. Nhân dịp này, Đức Thánh Cha Benedictine XVI đã gửi văn thư chúc mừng châu Mỹ Latinh và khẳng định cần nhiệt tâm tiếp tục công tác rao truyền Tin Mừng bằng cách khiến cho hoa trái đức tin và việc tông đồ rạng ngời lên.

    Thời gian trôi vào dĩ vãng. Những nạn nhân chôn vùi trong lòng đất. Tất cả tưởng như rơi vào quên lãng. Nhưng chính đó là những yếu tố làm nên lịch sử 500 năm thành lập của châu Mỹ Latinh. Đền Các thánh Tử đạo Việt Nam nhắc nhớ lời của Tertuliano: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra kẻ có đạo” và những nạn nhân hôm nay là hạt lúa mì rơi xuống đất, có chết đi mới trổ sinh hoa trái.

    Lịch sử còn ghi nhận sự kiện: Trong khi tìm kiếm các khu vực dân cư của các bộ lạc da đỏ Mỹ, năm 1519,  các người Châu Âu thám hiểm đầu tiên đã đến Texas. Giai đoạn 1519-1848, sáu quốc gia: Tây Ban Nha, Pháp, Mexico, Cộng hòa Texas, Hoa Kỳ đã tuyên bố chủ quyền tất cả hoặc một phần của tiểu bang Texas. Năm 1834, đã có hơn 30.000 người Anh sống ở Texas. Texas đã tham gia Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1845, trở thành tiểu bang thứ 28. Nền kinh tế của Texas tiếp tục phát triển nhanh chóng, từ năm 1994 trở thành tiểu bang lớn thứ hai về dân số, với một nền kinh tế rất đa dạng, và là một cơ sở phát triển công nghệ cao. Về mặt địa lý, tiểu bang Texas là một trong những tiểu bang rộng nhất nước Mỹ. 

    Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam thuộc về Houston, là một trong những thành phố của Texas. Vì gần biển nên cha xứ Giuse Vũ Thành, người đồng hương Phát Diệm, gốc quê hương Văn Hải đã dẫn chúng tôi xem hết mọi công trình trong khuôn viên nhà thờ. Một lần nữa, chúng tôi ghi nhận thiết kế thực dụng ở Mỹ, rất khoa học và quy mô, nhưng cũng vui mừng được nhìn ngắm những pho tượng đá với đường nét điêu khắc nghệ thuật 100% Việt Nam ! Cha xứ còn chiêu đãi chúng tôi và hai soeurs Têrêsa Hoàng Thị Lan, Maria Nguyễn Thị Thuý (thuộc dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm du học ở Houston từ hai năm nay), tại nhà hàng biển, nơi đây có loại tôm mang tên Lobster, càng cái của nó to đến nỗi mỗi soeur chỉ ăn một càng là đủ no !

    TIỂU BANG LOUISIANA
          

    Chúng tôi xuôi đường đi thăm thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana. Một cây cầu gọi là Causeway Bridge dài 24miles (38,6 km) dài nhất nước Mỹ vượt qua mọi địa hình đầm lầy, ao trũng, bãi cỏ, sông hồ... nối Houston với New Orleans. Chúng tôi chăm chú theo dõi thành phố New Orleans, một thành phố thấp hơn mực nước biển, và là nạn nhân của cơn bão Katrina năm 2005.  Đây là một trong năm cơn bão gây thiệt hại lớn nhất cho nước Mỹ. Bão lụt tàn phá nghiêm trọng dọc theo bờ biển vùng Vịnh từ trung Florida đến Texas làm 1.836 người chết, phần lớn là những nạn nhân tại New Orleans, Louisiana, gây tổn thất 81 tỉ đô-la. Tác giả Trung Chính, trong lời tựa của tác phẩm “Katrina gió đã đổi chiều” đã đưa ra nhận xét:

    “Cơn bão Katrina là một thiên tai do trời làm ra và đổ vào phía bắc vịnh Mê-hi-cô, lãnh thổ phía nam của các tiểu bang Louisiana, Mississipi và Alabama và đã gây thiệt hại mà cho đến nay, một năm sau, sự hàn gắn vẫn coi như mới mon men khởi đầu”

    Cũng chính tác giả đã đưa ra nhận xét của một người được coi là phản ánh chung tình trạng khi đó:
    “Cái gì dính vào ng
    ười tôi thì nó còn nguyên vẹn, cái gì không dính vào thì nó bay mất hết ! Bây giờ tôi chỉ có hai bàn tay trắng!”      

    Một bài thơ cảm thán như một hoài cảm làm hiện lên những hình ảnh dọc theo cơn bão:

    Không còn nhìn thấy Ka-tri

    Không còn sống mãi những gì đau thương.

    Đau thương trên khắp nẻo đường

    Khắp nơi thành thị, phố phường tan hoang.

    Muôn ngàn người phải lang thang,

    Giờ đây kiếp sống phũ phàng khó khăn.

    Cơ quan từ thiện viếng thăm,

    Vơi đi một chút băn khoăn cõi lòng.

    Mình buồn số phận long đong,   

    Bao giờ mới trả cho xong nợ nần.

    Khi xưa ngày tháng ân cần

    Gia đình khuya sớm có phần an vui.

    Ai ngờ bão đến lại xui,

    Than ôi ! Số kiếp ngậm ngùi đắng cay.

    Nỗi niềm tâm sự ai hay,

    Hai bàn tay trắng, đắng cay giữa trời.

    Van xin Thượng Đế nhận lời,

    Ngày mai lại thấy cuộc đời an vui.

    Lm Phan Đức Đổng

    Chính xứ Các Thánh Tử đạo Việt Nam Biloxi, Mississipi.  

    Hàng chục ngàn người đã phải vào trú ngụ tại Louisiana Superdome, một dome tròn lớn nhất thế giới. Bên trong là cả một sân vận động, sân này đã từng tổ chức giải bóng đá chuyên nghiệp vào năm 1975.

    Louisiana Superdome

    Tác giả Vương Kỳ Sơn trong bài viết: Viễn tượng Phục sinh New Orleans sau cơn bão Katrina đã kể lại:

    “Tôi đã đến một địa điểm đê bị vỡ thuộc vùng Lake Front. Đó là khu gần đại học New Orleans, nơi có con sông nhỏ sát hồ Pontchartrain ăn sâu vào thành phố. Một cây cầu bác trên con sông nhỏ này tên là London North Bridge. Rất nhiều căn nhà có nóc chỉ cao bằng bờ đê. Nghĩa là nền nhà thấp hơn mặt đê khoảng 20 feet (6m) và khi đê bị vỡ thì nước ùa vào và những căn nhà này bị chìm ngập dưới nước.”

    Bài viết kết thúc bằng một hình ảnh cảm động:

     “Ở trên đường Paris Road, khoảng biên giới giữa hai quận, người ta đã lượm hay lấy từ đâu đó một cây Thánh Giá thật lớn có tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh để dựng trên bùng binh của con đường, với hàng chữ:

     “keep the faith. We will rebuild”

    (Hãy giữ vững niềm tin. Chúng ta sẽ xây dựng lại)

    Sau sáu năm, thành phố đã hồi sinh, không còn dấu vết của cơn bão lụt tàn phá. Cảnh thanh bình đã trở lại. Quyết tâm thư của hàng chữ trên đã được thực hiện !

    “Hồng ân Thiên Chúa bao la, Muôn đời con sẽ ngợi ca danh Người” (Tv 88, 2).

    Không phải là tản bộ, nhưng là vòng xe quanh khu phố N. Lemans St.  New Orleans LA, chúng tôi đi vào một trong những khu vực của NASA, cơ quan trung tâm nghiên cứu vũ trụ của Mỹ. Tại đây, chúng tôi được tận mắt nhìn xem con tàu vũ trụ Apollo 11. Sau khi đổ bộ thành công phi hành đoàn lên mặt trăng năm 1969, con tàu vũ trụ trở về trái đất. Thân tàu khổng lồ được đặt tại đây, còn đầu tàu được đưa về Đài Thiên văn Griffith. Cả một thành tựu khoa học hiện ra, một sự kiện vang lừng thế giới bỗng như vang dội lại trong mỗi chúng tôi. Tôi ước ao được trèo lên con tàu, nhưng tất cả được đặt sau hàng rào thưa. Chỉ có thể lùi ra xa, nâng ống kính lên cao để chụp toàn thân con tàu mà không ai có thể động được đến thân tàu. Dù sao chúng tôi cũng ước lượng vội vàng thân tàu phải to bằng một nhà thờ giáo họ, hoặc nếu bạn ở “nhà ống” thì chiều ngang bằng hai suất đất (chạy sâu bên trong có ao có vườn) vì đường kính của phi thuyền là 8,7m chiều dài là 56,1m!

    Trung tâm NASA lớn nhất nằm ở Texas, chúng tôi thật may mắn được chính cha Giuse Vũ Thành đưa đến tận nơi và được ông Trịnh Tiến Tịnh là kỹ sư thiết kế thiết bị vận hành tàu vũ trụ dẫn đi xem chi tiết.

    Tiền thân của Nasa là “Hàng không và Vũ trụ Quốc gia” đã được thành lập ngày 01 tháng 10 năm 1958 để cung cấp các dữ liệu nghiên cứu các chuyến bay trong và ngoài bầu khí quyển của Trái đất và cho các mục đích khác. Dự án đầu tiên mang tên Mercury đưa người Mỹ đầu tiên vào quỹ đạo trái đất trong tàu vũ trụ có người lái, và để điều tra khả năng của con người hoạt động trong không gian.

    Từ đó nó được mang tên là “Trung tâm Tàu vũ trụ có người lái”, được xây dựng vào năm 1961 trên đất hiến tặng của trường Đại học Rice. Ngày 19 tháng hai năm 1973, trung tâm đã được đổi tên là Johnson, tên danh dự của Tổng thống Mỹ quê hương Texas là Lyndon B. Johnson.

    Thành tựu khoa học lớn nhất khi đó là sự kiện tàu vũ trụ Apollo 11đã đưa con người lên Mặt trăng và trở về mặt đất an toàn, mang theo gần 400 kg mẫu đất đá Mặt trăng. Từ đây là những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực khoa học. Bốn tàu con thoi không gian của NASA là phi thuyền đầu tiên có khả năng thường xuyên bay vào quỹ đạo như tên lửa và sau đó trở về Trái đất như tàu lượn. Những con tàu này được sử dụng cho nghiên cứu khoa học và các ứng dụng không gian, chẳng hạn như việc triển khai và sửa chữa các vệ tinh. Từ đầu năm 1994 đến 1998, bảy phi hành gia Mỹ đã trải qua gần 1000 ngày sống trong quỹ đạo với các phi hành gia Nga trên trạm không gian vũ  trụ.  Trạm không gian vũ trụ Mỹ ráp nối với trạm không gian vũ trụ Nga tạo nên trạm vũ trụ quốc tế và bắt đầu một kỷ nguyên hợp tác và nghiên cứu, hiếm thấy trong lịch sử nhân loại.

    Trung tâm vũ trụ Johnson bao gồm 100 tòa nhà được xây dựng trên 1.620 acres (656 ha) tại Houston. Nơi đây có 14.000 nhân viên làm việc, trong đó có khoảng 400 nhân viên Việt Nam.

    Chúng tôi lên tàu điện đi vòng trong khu trung tâm. Tàu dừng ở 3 trạm, trạm một để nghe hướng dẫn và kiểm tra số người đi. Trạm hai là một đỉnh cao của trí tuệ nhân loại. Nơi đây đã đặt mô hình của những con tàu vũ trụ do các nước phát triển, đứng đầu là Mỹ và Nga. Họ đang đào tạo phi hành gia hoặc cùng hợp tác quốc tế nghiên cứu các trạm không gian vũ trụ. Họ đang thử nghiệm những phát minh mới nhất như xe chạy trên mặt trăng v.v… Trạm ba là thân tàu Apollo từ Apollo 1 đến Apollo 17. Tất cả đều khổng lồ, bạn sẽ có cảm giác như ở sân bay và đang ngước nhìn cả một đoàn máy bay đang xếp nối nhau thành một hàng thẳng.

    Ước vọng của chúng tôi leo lên tàu vũ trụ ở New Orleans không được thực hiện thì hôm nay đã trở nên hiện thực ở Texas. Lần đầu tiên, chúng tôi được vào buồng lái của con tàu vũ trụ, được quan sát hệ thống điều khiển con tàu cũng như các thiết bị vũ trụ, kể cả những sinh hoạt  từ ăn uống, ngủ nghỉ, đến cả những phòng tắm, phòng vệ sinh dành cho các phi hành gia trong trạng thái không trọng lực. Tất cả đều đặc biệt và đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối của khoa học kỹ thuật. Các phi hành gia phải ngủ trong một túi lớn cột chặt vào thân tàu, buồng tắm tương tự như một túi treo lớn và nước phải đẩy từ một ống van. Thức ăn là những tinh chất cực nhỏ như những phên thuốc hoặc ở thể dung dịch. Nói tóm lại là một quy tắc hết sức nghiệt ngã đòi hỏi các phi hành gia một khổ luyện công phu.

    Một khu vườn trải rộng ở giữa Trung tâm vũ trụ Johnson, thoạt nhìn chỉ đơn giản là vườn trồng cây xanh, nhưng ở mỗi gốc cây dựng lên một bia đá tưởng niệm những phi hành gia đã hy sinh vì sự nghiệp khoa học. Thành quả của khoa học kỹ thuật phải trả giá đắt bằng những hy sinh lớn lao, từ sức  lao động tận lực của công nhân kỹ thuật, tới chất xám của các kỹ sư thiết kế, các khoa học gia và giá máu hy sinh của các phi hành gia. Trung tâm NASA đã tặng toàn thể nhân viên một huy hiệu mang dòng chữ  “10 MILLION HOURS WITHOUT A LOST WORD” (Mười triệu giờ không lãng phí) đủ cho thấy cường độ làm việc của trung tâm. Đặc biệt trong huy chương có ghi dòng chữ: EXCELLENCE ACHIEVED BY THOSE WHO BELIEVED  “Thành công vĩ đại chỉ dành cho người có niềm tin” Niềm tin và ý chí được đề cao ! Mỗi bia đá khắc tên hôm nay cũng là một bằng chứng về giá máu mà các phi hành gia đã phải trả cho các thành tựu khoa học hôm nay. Trung tâm Nasa không thể quên ngày 28 tháng 1 năm 1986, tàu con thoi Challenger đã bị nổ tung sau khi phóng vào không gian được 73 giây, dẫn đến cái chết của bảy thành viên trong phi hành đoàn. Tàu vũ trụ tan rã trên Đại Tây Dương, miền trung bờ biển Florida lúc 11:39. Thảm hoạ cũng đã xảy ra với phi thuyền con thoi Columbia ngày 01/02/2003 vào đúng khi hành trình chuyến bay đã về tới tầng khí quyển trái đất, sắp kêt thúc hành trình. Bảy thành viên trong phi hành đoàn đã thiệt mạng. Tuy nhiên nếu so sánh trong 135 chuyến bay của phi thuyền, chỉ có hai lần thất bại thì xác suất này không phải là lớn.

    Hiện nay  NASA có các trung tâm ở Florida, Mississippi, Alabama, và Houston. Trung tâm vũ trụ Johnson đã kết thúc chương trình không gian 50 năm của Mỹ khi phi thuyền mang tên Atlantis hoàn thành chuyến bay vào ngày 21/07/2011 vừa qua. Kết thúc này không có nghĩa là “khép lại” nhưng là để “mở ra” một chương trình mới: khám phá những thế giới khác trong hệ thống mặt trời và hiểu rộng thêm về vũ trụ của chúng ta. Trung tâm Nasa bắt đầu thử nghiệm những thiết bị nghiên cứu cho dự án năm 2034 bay lên Sao Hoả. Đó sẽ là những đỉnh cao thành tựu khoa học và là kết quả sự hợp tác quốc tế giữa các nước Mỹ, Nga, Trung Quốc, và các nước khác.

    PHILADELPHIA

    Rời Houston với những tình thân của đồng hương Phát Diệm, chúng tôi đã có mặt ở sân bay để đi thăm Philadelphia thành phố lớn nhất trung tâm của tiểu bang Pennsylvania, thành phố thủ đô đầu tiên cổ nhất của nước Mỹ. Philadelphia đã được thành lập từ năm1682, khi đó khu vực này là nơi sinh sống của người Ấn Độ và các thổ dân. Những năm đầu thế kỷ 17, Philadelphia nhanh chóng phát triển thành một thành phố thuộc địa quan trọng và trong cuộc Cách mạng Mỹ giành độc lập, thành phố đã được lựa chọn làm thủ đô tạm thời của Hoa Kỳ. Vào đầu thế kỷ 19, Philadelphia vẫn còn là trung tâm văn hóa và tài chính của đất nước và là thành phố có nhiều ngành công nghiệp, dệt may lớn nhất. So sánh một cách khập khiễng, Philadelphia tương tự như cố đô Hoa Lư của Việt Nam, khi vua Đinh Bộ Lĩnh dẹp được loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng Đế (968-979) và đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

    Từ năm 1950, dân số của thành phố bắt đầu giảm. Philadelphia trong tình trạng nghèo và thiếu các tiện nghi. Chiến tranh băng đảng mafia hoành hành tại thành phố. Nhưng từ  cuối thế kỷ 20 đến nay, thành phố đang hồi sinh và gia tăng dân số, thậm chí còn có sự bùng nổ chung cư ở trung tâm thành phố và các khu vực xung quanh.

    Chúng tôi tới nơi khi thành phố đã nghiêng đổ nắng chiều. Những dãy phố còn giữ được theo phong cách kiến trúc của Anh. Vì trước khi dành độc lập, Philadelphia từng là một trong mười ba tiểu bang Hoa kỳ là thuộc địa của Anh. 

    Tại thành phố này, còn giữ được quả chuông đồng lịch sử. Nó đã gióng lên hồi chuông đầu tiên mừng ngày tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ mùng 4 tháng bảy năm 1776. Tiếng chuông đầu tiên và cũng là tiếng chuông duy nhất vì nó bị nứt vỡ ngay sau đó. Người ta đã giữ quả chuông như một kỷ vật hoà bình và chúng tôi đã phải xếp hàng rất dài mới tới lượt được vào xem và chụp ảnh lưu niệm trước quả chuông này. Từ Philadelphia, chúng tôi sẽ đi tiếp những thành phố quan trọng khác.

    NEW YORK

    Chúng tôi lên xe bus trực chỉ New York, thành phố hiện đại và phồn thịnh nhất Hoa Kỳ.

    Từ Philadelphia tới trung tâm New York , xe bus đi qua một đường hầm dài. Chẳng có gì xa lạ với Việt Nam khi đường hầm đèo Hải Vân, đèo Cả, đèo Ngang cũng đã cho hành khách một khái niệm về khoa học kỹ thuật hiện đại ứng dụng trong giao thông như thế nào. Nhưng điều bất ngờ với chúng tôi là đường hầm này xuyên qua dưới lòng sông. Đây là đường hầm xe hơi đầu tiên trong số hai đường hầm đi xuyên qua dưới lòng sông Hudson.  Hoàn thành năm 1927 sau 7 năm thi công, đường hầm mang tên vị kỹ sư trưởng người Hà Lan Miburn Clifford, vị kỹ sư đã chết trước khi dự án hoàn thành. Để thông gió cho đường hầm này, người ta đã thiết kế bốn toà nhà thông gió cung cấp gió cho 84 quạt cùng hoạt động dọc theo hai đường ống tuýp lớn, để có khả năng trong vòng 90 giây, thay đổi không khí trong đường hầm khỏi các thành phần carbon monoxide là chất độc ​​hại của khí thải ô tô. Theo thống kê, chỉ riêng năm 2007, đã có tới 34.698.000 lượt xe qua lại đường hầm này.

    Qua đường hầm dễ dàng và thông thoáng, chúng tôi tiếp cận với trung tâm thành phố New York. Quả là “Danh bất hư truyền”,  một thành phố văn minh hiện đại choáng ngợp trước mắt chúng tôi. Tại các thành phố Âu châu hoặc Á châu, người ta thường nói tới toà nhà cao chọc trời, còn ở New York này là cả một thành phố cao chọc trời. Chúng tôi bị mất hút tầm mắt khi ngẩng cao nhìn thành phố cao tầng. Ngồi trên tầng hai nóc xe bus, đi dọc đường phố giữa trưa nắng của khí hậu bắc Mỹ, dù là “đứng bóng” mặt trời nhưng xe vẫn có nhiều bóng mát vì nhà tầng cao vút tạo nhiều góc cạnh, và chỉ cần một góc thôi, chúng tôi đã có quá đủ bóng mát rồi !

    Theo sử liệu thì từ năm 1913 -1974, thành phố New York đã xây dựng các toà nhà cao nhất thế giới. Từ đó đến nay, các toà nhà chọc trời tiếp tục mọc lên, đặc biệt là toà tháp đôi, trung tâm thương mại thế giới.

    Chúng tôi dừng chân tại quảng trường Times Square và đi bộ tới tận chân toà tháp đôi để chứng kiến những thăng trầm lịch sử đã từng diễn ra nơi toà tháp cao nổi tiếng này.

    Trung tâm Thương mại Thế giới ban đầu là quần thể của bảy tòa nhà bao gồm tòa tháp đôi cao nhất mang tính biểu tượng ở New York. Toà tháp đôi này được xây dựng từ đầu những năm 1960. Tháp phía bắc đã được hoàn thành trong tháng mười hai năm 1972 và tháp phía nam được hoàn thành trong tháng bảy năm 1973. Cả hai được thiết kế theo kết cấu khung thép cao 110 tầng (một toà cao 417m, một toà cao 415m) cao hơn cả toà nhà Empire State 107 tầng, được coi là cao nhất thế giới tính đến thời điểm đó. Đài quan sát thế giới nằm trên tầng 107 của tháp phía Nam. Toà nhà thứ bảy trong quần thể này mới hoàn thành vào năm 1985.

    Thế giới đều đã biết sáng ngày 11 tháng chín năm 2001, hai máy bay phản lực thuộc lực lượng  Al-Qaeda đã lao thẳng vào toà tháp đôi này trong một cuộc tấn công khủng bố. Sau 56 phút bị bốc cháy, tháp phía Nam bị sụp đổ, nửa giờ sau đến toà tháp phía Bắc. Cuộc tấn công này đã làm 2.752 người chết.  Các toà khác trong quần thể tuy không bị sụp đổ nhưng cũng đã bị phá hủy vì hư hỏng nặng không thể sửa chữa được.

    Đến xem trực tiếp mới lý giải được tại sao chỉ trong một giờ đồng hồ mà toà tháp đôi lại có thể sụp đổ dễ dàng như thế. Câu hỏi của tôi từ 10 năm nay chắc cũng giống như  bạn là tường bê-tông cốt thép kiên cố đâu dễ dàng dẫn nhiệt đến tận chân móng trong một giờ đồng hồ như vậy? Và cho dù thép nóng chảy thì tường bê-tông cũng không dễ dàng sụp đổ nhanh đến thế. Vâng, sai lầm chính là ở chỗ đó. Chúng ta là người Việt Nam, suy nghĩ theo cung cách xây dựng của Việt Nam. Bạn còn nhớ ở ngay phần đầu của ký sự, tôi đã mô tả công nghệ xây dựng phù hợp với địa hình, khí hậu ở Hoa Kỳ. Chỉ có khung thép chịu lực dựng đứng, phần bọc là gỗ, và các công nghệ cách âm, chống nóng đều dễ cháy. Khi Toà Tháp đôi bị bốc cháy dữ dội, nhiệt độ cao làm thép nóng chảy, tất cả các lớp công nghệ xây dựng bắt lửa và chỉ trong một giờ đồng hồ, mọi diễn biến lịch sử đều đã kinh hoàng xảy ra!  

    Không phải chỉ đơn phương có đoàn chúng tôi, dòng người đi bộ từ các nước trên thế giới cũng đang thầm lặng tiến về đây. Cùng với họ, chúng tôi trầm lắng suy tư, ngậm ngùi hoài niệm và không quên chụp ảnh mảnh đất bàng hoàng đau thương trước khi ra về.

    Đến với New York còn là đến với một lịch sử giàu tính truyền thống. Năm 1524, người Pháp đã phát hiện ra mảnh đất này, nhưng Hà Lan mới là nước tuyên bố chủ quyền đầu tiên vào năm 1609.  Năm 1664, New York lại trở thành thuộc địa nước Anh. Từ  thế kỷ 18, New York phát triển thành trung tâm thương mại lớn và là tiểu bang thứ mười một gia nhập Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (1787), thành phố New York là thủ đô quốc gia tại những thời điểm khác nhau giữa những năm 1785 và 1790.

    Trong suốt thế kỷ 19, thành phố New York đã trở thành điểm chính cho người nhập cư châu Âu đến Hoa Kỳ, nhất là từ khi tượng Nữ thần Tự do được dựng lên vào năm 1886 và trở thành một biểu tượng của hy vọng. Đây là pho tượng do nhà điêu khắc người Pháp Frédéric Auguste Bartholdi kết hợp với Alexandre Gustave Eiffel (nhà thiết kế Tháp Eiffel) hoàn thành tác phẩm điêu khắc kỷ niệm một trăm năm bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1786-1886).

    Tượng Nữ thần là một nỗ lực chung giữa Mỹ và Pháp.  Mỹ xây dựng bệ tượng bằng đá hoa cương, và Pháp lắp ráp tượng Nữ thần. Lễ khánh thành tượng tại New York  diễn ra ngày 28 tháng 10 năm 1886.  Liên Hợp Quốc đã công nhận tượng Nữ thần Tự Do là một di sản văn hoá thế giới.

    Chúng tôi không thể đáp tàu thuỷ ra tận nơi đặt tượng Nữ Thần Tự Do, chỉ đứng trên bờ biển ở cự ly gần nhất, nhìn ra pho tượng đặt trên mỏm một đảo nhỏ là cửa ngõ của New York. Thời gian gấp gáp chỉ đủ để đáp chuyến xe bus theo vé khứ hồi trở về

    Philadelphia, chuẩn bị cho hành trình đi Wahsington, DC.

    Lm. Phêrô Hồng Phúc

    Số lượt xem: 7331 Gửi cho bạn bè      In trang này
    >> CÁC TIN KHÁC
     

     

    Tòa giám mục Phát Diệm
    75 Phát Diệm Đông – Kim Sơn – Ninh Bình
    ĐT: 02.293.862.058 – Fax: 02.293.862 724
    Email: tgmpdiem@gmail.com

    Ban biên tập
    Email: bbt@phatdiem.org
            Copyright 2011
    Tòa giám mục Phát Diệm
    Loading ...