Trang chủ > SỐNG LỜI CHÚA > Suy niệm theo chủ đề

Suy niệm theo chủ đề

Vị Mục Tử Tình Yêu

Nguyễn Vịnh | 21:37 | 19/04/2013

Qua hình ảnh Người Mục Tử trong Tin Mừng, chúng ta có thể dừng lại để cùng nhau chiêm ngắm gương mặt đầy yêu thương, nhân từ của vị Thiên Chúa làm người, của vị Mục tử tình yêu


    “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Quả thế, ngay từ khởi đầu Thiên Chúa đã yêu chúng ta và muốn thông ban cho chúng ta tình yêu đó. Vì vậy Người đã tạo dựng nên chúng ta cùng với muôn loài muôn vật, lại còn cho ta làm chủ mặt đất này nữa. Người đã không tạo dựng nên ta rồi để mặc chúng ta, nhưng Người vẫn luôn yêu thương, dẫn dắt, chăm sóc, canh giữ chúng ta như người mục tử tốt lành hết lòng vì đàn chiên. Người còn hy sinh mạng sống của mình để cho đàn chiên được sống và sống dồi dào (Ga10,11). Qua hình ảnh Người Mục Tử trong Tin Mừng, chúng ta có thể dừng lại để cùng nhau chiêm ngắm gương mặt đầy yêu thương, nhân từ của vị Thiên Chúa làm người, của vị Mục tử tình yêu luôn yêu thương tận tình dẫn dắt, chăm sóc, chở che, nâng đỡ đàn chiên, đồng thời cũng giúp chúng ta biết sống thế nào cho xứng đáng là một con chiên ngoan hiền, và noi gương Người để thi hành sứ vụ mục tử đã lãnh nhận trong ngày chịu phép Thánh Tẩy.

    Trước hết chúng ta đi tìm hiểu xem “mục tử và đàn chiên” là gì? Đây là một chủ đề rất thường hay gặp ở trong Kinh Thánh và cũng là một hình ảnh rất đỗi quen thuộc đối với người Israel vì họ xuất phát từ dân du mục. Mục Tử là người chăn súc vật như chiên, dê… Mục tử (poimhn: Phoimen) có nghĩa tượng trưng cho Thiên Chúa “Chúa là mục tử chăn dắt tôi”(Tv23,1), “như mục tử, Chúa chăn giữ đàn chiên của Chúa” (Is 40,11). Người là vị Mục tử tối cao là Đấng chăn chiên nhân lành, canh giữ và quy tụ chúng dưới bàn tay yêu thương của Người, lũ chiên con ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ tận tình dẫn dắt. Nhưng để thể hiện một cách hiện hữu, cụ thể thì Người đã cho các vị lãnh đạo trong dân thay mặt Người để hướng dẫn dân. Nhưng tình yêu của Người không chỉ dừng lại ở đó, mà còn được thể hiện một cách trọn vẹn hơn. Khi Người loan báo sẽ cho có một mục tử lý tưởng, như một tân Đavit (2Sm 7,8; Tv 78,70-72). Đấng ấy sẽ chu toàn nhiệm vụ mục tử của mình đối với đàn chiên (Mk 2,12-13; Gr 23,1-4 ; 31,10; Dcr 11,4-17). Đấng ấy chính là Đức Giêsu Kitô (Ga 10,11). Còn đàn chiên (mnoV:amnos: con chiên) tượng trưng cho dân Chúa.

    Trải theo dòng lịch sử của ơn cứu độ, Thiên Chúa đã dẫn dắt dân Người qua những kẻ cầm đầu trong dân mà Thiên Chúa đã đặt lên, nhưng những mục tử này hầu hết đều xấu, họ chỉ là những kẻ chăn thuê. Vì các mục tử đã chống lại Thiên Chúa (x Gr 2,8) và “đều ngu xuẩn, chúng chẳng kiếm tìm Thiên Chúa, nên chúng chẳng thành công, cả đàn chiên của chúng đều bị phân tán” (Gr 10,21), cho nên thật “khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác”. Bởi các mục tử đó chỉ biết lo cho mình: “sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt các ngươi làm thịt; nhưng các ngươi lại không lo chăn dắt đàn chiên, đến nỗi để chiên bị đau yếu mà các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên đi lạc các ngươi không đưa về; chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34,2-4). Vì thế Thiên Chúa đã lên án các mục tử, những kẻ chăn dắt dân Chúa: chính các ngươi đã làm cho đàn chiên của Ta phải tan tác; các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Vì thế, Chúa sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi (Gr 23,1-2).  Chính vì sự gian ác của các mục tử mà Thiên Chúa sẽ quy tụ đàn chiên còn sót lại từ khắp mọi miền và sẽ đưa chúng về đồng cỏ, để rồi chúng sẽ sinh sôi nảy nở thật nhiều. Thiên Chúa sẽ chuẩn bị cho dân Người một Mục tử biết chăm lo cho đàn chiên. Đấng ấy sẽ dẫn dắt chúng, chúng sẽ không còn phải hãi hùng, kinh khiếp và bị bỏ rơi nữa. Người sẽ cho xuất hiện một mục tử để chăn dắt chúng, nó sẽ dẫn dắt chúng, đó là Đa-vít, tôi tớ của Ta : chính nó sẽ là mục tử của chúng (x. Ed 34,23). Vị Mục tử này chính là Đấng Mêssia, là Đấng xuất thân từ gốc tổ Giêse, thuộc dòng dõi Đa-vít.

    Quả vậy, khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã cho Đức Giêsu Kitô đến để dẫn dắt dân Người. Ngài chính là vị Mục tử của Thiên Chúa là Đấng Mêsia mà ngôn sứ Isaia trước kia đã loan báo: “Từ gốc tổ Giêsê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ sẽ mọc lên một mần non”“Thần Khí sẽ ngự trên Ngài”, như các ngôn sứ, nhưng còn hơn thế nữa. Các ngôn sứ được linh hứng bởi một sức mạnh nhiệm mầu được gọi là “Thần Khí Đức Chúa” nhưng không phải thường xuyên. Ngược lại, Thần khí sẽ luôn ở với Ngài, để Ngài thi hành nhiệm vụ xét xử và mang lại công lý, hòa bình cho dân. Ngài sẽ là sứ giả của Thiên Chúa, ân cần với người nghèo bênh đỡ người thấp cổ bé miệng, trấn áp kẻ hung bạo (x. Is 11,3-9).

    Trong suốt thời gian Đức Giêsu ở trần gian và đi rao giảng Tin Mừng, Ngài đã không ngừng kêu gọi mọi người trở về đàn chiên của Ngài và tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Lòng nhân từ đó được coi là điểm riêng biệt của Thiên Chúa. Ngài không lỡ để cho ai bị hư mất, lạc đường. Bởi Ngài là Mục Tử nhân lành, Mục tử của tình yêu.

    Đọc kỹ Tin Mừng chúng ta thấy, hình ảnh người Mục tử được nằm rải rác trong Tin Mừng Nhất Lãm, điều đó gợi cho chúng ta thấy tình thương của Ngài luôn trải dài theo dòng thời gian và trên suốt cuộc đời con người chúng ta. Ngài đã xuống đồng hành cùng đàn chiên của mình, để hướng dẫn chúng. Ngài thấu cảm đến những nỗi khốn khổ tột cùng của con người và khi thấy họ thì Ngài đã “chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Quả thế suốt lịch sử, dân Chúa trong Cựu ước từng bị bao tên lái buôn, chăn thuê bóc lột và làm tan tác (x. 1V 22,17; Gr 50,6) và ngay lúc Đức Giêsu xuất hiện vẫn có những người lãnh đạo đui mù (x. Mt 15,14; 23,16.24), lấy ‘men’ đạo lý độc hại ( x. Mt 16,12) làm lạc hướng hư hỏng đàn chiên; vẫn còn hạng người chăn thuê và vô liêm sỉ, trục lợi làm chiên đói rách, tản lạc ( x. Ga 10,12). Ngài động lòng thương dân tất bật ấy và truyền cho các môn đệ khi đi rao giảng thâu nạp môn đồ khắp muôn dân ( x. Mt 28,19) cũng phải có tình thương ấy.

    Tình thương của Ngài không chỉ là nhìn thấy rồi chạnh lòng thương, nhưng còn được thể hiện bằng hành động rất cụ thể, qua dụ ngôn con chiên bị mất (Mt 18,12-14; Lc 15,4-7). Ngài quan tâm đến từng con, ân cần săn sóc và khi nó bị lạc mất thì Ngài đã không để mất một con nào, nhưng đã cất công đi tìm cho kỳ được và khi đã tìm được rồi thì mừng rỡ vác nó lên vai như một dải khăn quàng sống động để cảm thấy nó thật gần gũi với mình. Ngài là thế đó, Ngài tiếp đón những kẻ lầm lỡ có tội biết thống hối như một người bạn thân thiết hay như một người con thân yêu chứ không như một tội nhân đáng trừng phạt. Niềm vui khi tìm được con chiên lạc đó cho chúng ta thấy tình yêu thương của Ngài thật thắm thiết, rộng lượng, thứ tha và cuộc sống của Ngài là vì đàn chiên, cho đàn chiên. Ngài yêu thương tất cả mọi người và muốn mọi người đều được ơn cứu độ, trở nên một đàn chiên trong Ngài. Nhưng “tất cả” không có nghĩa là một khối người tương đối đông, mà là “từng người”. “Tất cả” là “từng người” trong thế giới, không sót một ai. Ngài chiếu cố đến từng con người y như chỉ có một mình người ấy trên đời. Mỗi con người đều có giá trị vô song trước mặt Ngài. Ngài tạo nên từng con người với tất cả những phong phú làm nên nhân vị con người ấy. Ngài hỗ trợ cho con người ấy phát triển đến mức tối đa, để cuộc đời người ấy thành một tuyệt tác cho Ngài và cho loài người.

    Hình ảnh mục tử của Đức Giêsu còn được thể hiện qua việc xét xử trong ngày chung thẩm. Bấy giờ Ngài sẽ tách biệt chiên ra khỏi dê. Việc tách chiên với dê là chuyện rất quen thuộc đối với người Israel, vì ở Do thái người ta thường chăn chung chiên với dê trên một đồng cỏ. Nhưng chiều đến, người ta phải tách chúng ra, vì dê sợ lạnh, nên cần được sưởi ấm suốt đêm, còn chiên thì cần nơi mát mẻ hơn. Qua đó chúng ta thấy Ngài yêu thương lo cho đàn chiên của Ngài. Ngài tách những người lành riêng ra để chúng khỏi bị ảnh hưởng xấu của những kẻ dữ. Ngài lo cho sự an nguy của chiên, sợ chiên bị dê ăn hiếp. Ngài rất quan tâm đến đàn chiên của mình, biết rõ chúng cần gì và muốn gì. Vì sự khác biệt giữa chiên và dê, cũng như giữa người lành và kẻ dữ thế nào, nên Ngài đã phân tách chúng ra để cho chiên được ở bên hữu của Ngài, là chỗ danh dự, ưu tiên dành cho những kẻ yêu mến Ngài.

    Qua những điểm trên đây cho chúng ta thấy hình ảnh Mục tử trong Tin Mừng Nhất Lãm được thể hiện một cách rõ nét qua ba góc nhìn, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngài thấy và chạnh lòng thương vì họ lầm than vất vưởng, sai đường lạc lối, nên Ngài đã đi tìm để đưa về cho khỏi bị lạc. Khi đã tìm được rồi thì Ngài dạy dỗ uốn nắn chăm sóc, nâng đỡ và Ngài tách nó ra để cho nó được phát triển và sống tốt hơn ở bên Ngài. Tình yêu và hành động của Ngài cứ mỗi lúc một tăng lên. Lúc đầu thấy rồi thì thương và khi đã thương rồi thì Ngài bỏ công đi tìm để đưa về, và khi đã đưa về rồi thì Ngài tách ra đểyêu thương nó một cách trọn vẹn hơn.

    Còn nơi Tin Mừng Gioan thì sao? Chúng ta thấy hình ảnh đó tập trung ở chương 10 và thể hiện một cách sâu đậm hơn. Chỉ có một hình ảnh Mục tử tốt lành, yêu mến đàn chiên, sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đàn chiên, để quy tụ tất cả về một mối và chỉ có một đàn chiên duy nhất và một Mục tử mà thôi.

    Như chúng ta đều biết, trong chăn nuôi, vai trò và nhiệm vụ của người mục tử là rất quan trọng và khó khăn. Người mục tử không chỉ nuôi vài ba con chiên mà nuôi cả đàn lên tới mấy trăm hoặc mấy ngàn con. Mà muốn nuôi sống một đàn chiên đông như thế, không phải chỉ cần đi cắt một vài bó cỏ đem về là đủ, nhưng phải tìm những đồng cỏ lớn, phải tính sẵn trong đầu xem khi đàn chiên ăn hết đồng cỏ này thì phải dẫn chúng đến đồng cỏ khác ngay và phải chọn chỗ vừa có cỏ xanh vừa có bóng mát vừa có nước uống (x. St 13,1-9). Ngoài ra còn phải bảo vệ chiên khỏi những nguy hiểm thường xuyên đe dọa như trộm cướp và thú dữ. Có khi phải chiến đấu đến bị thương hoặc bị chết. Chính vì thế mà khi chiều đến thì mục tử đưa chiên của mình vào ràn. Ràn chiên là nơi có tường bao quanh và có người canh giữ. Do đó những kẻ trộm không bao giờ vào lối cửa chính, nhưng chúng phải trèo qua lối khác mà vào. Vì khi đi qua cửa thì kẻ trộm sẽ bị người giữ cửa chận lại, nên hắn không làm gì được. Còn người mục tử thì qua vào bằng cửa chính và Ngài sẽ gọi tên từng con rồi dẫn chúng ra đồng cỏ xanh, vì Ngài biết rõ từng con. Ngài hiểu biết và yêu mến chiên, Ngài làm chủ đàn chiên và chiên nhận biết Ngài là Mục tử thật. Cho nên chiên quen tiếng chủ, nghe tiếng chủ liền nhận ra và đi theo. Nhưng chiên không quen tiếng người lạ, nên khi chiên nghe thấy tiếng người lạ thì chẳng những chiên không theo, lại còn chạy trốn nữa ( x. Ga 10,1-5). Khi đưa hình ảnh kẻ trộm vào dụ ngôn này Đức Giêsu đã làm nổi bật sự đối lập giữa người Mục tử thật với kẻ trộm, cướp. Sự khác nhau giữa hai hạng người là người mục tử và con chiên thì biết nhau, còn chiên thì không biết tới kẻ trộm cướp, người chăn giả. Khi nói tới đây Đức Giêsu muốn trình bầy Ngài là Mục tử thật, đối lập với các mục tử giả đã đến trước đó. Nhưng ai là những mục tử giả, được gọi là kẻ trộm, cướp đã tàn sát chiên ? Chắc hẳn Đức Giêsu không thể nghĩ tới các ngôn sứ, mà nghĩ đến các thủ lãnh chính trị của Israel, các ác vương thời xưa, là những người chỉ coi quyền hành của họ như là một phương tiện để thỏa mãn sở thích hiếu chiến, thỏa mãn tính kiêu căng, các tham vọng của họ. Nhưng ở đây rõ ràng là Ngài nghĩ tới các thủ lãnh tôn giáo Israel đã gạt dân của họ xa con đường sống: Các người Do thái tàn sát các ngôn sứ; các nhà tiến sĩ thời Ngài đã ngăn chặn không cho dân chúng đáp lại lời mời gọi của Nước Trời. Các người quốc gia mơ ước cuộc nổi loạn chống lại Rô ma. Còn Đức Giêsu thì Ngài trao ban sự sống (x. Ga 10,10).

    Đức Giêsu đến để canh giữ đàn chiên. Ngài đã trở nên cửa chuồng chiên để cho chiên ra đồng cỏ xanh tốt và cho chiên vào để được trú ẩn an toàn. “Tôi là cửa cho chiên ra vào” ( c.7) và “ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu, người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” ( c. 9). Như chúng ta đã biết, ràn chiên có tường bao bọc chung quanh và chỉ có một cửa duy nhất để ra vào mà thôi. Điều này càng làm cho chúng ta xác quyết là Đức Giêsu là lối ra vào duy nhất mà người ta có thể qua đó mà đến với chiên. Để đi đến đàn chiên, biểu tượng của dân Chúa, Đức Giêsu là vị Mục tử tất yếu. Ngoài Ngài ra không còn lối đến với dân Chúa và đạt đến sự sống. Theo các Thánh Giáo Phụ thì Đức Giêsu là lý lẽ tiên quyết “Ngài là cửa ra vào cho Abraham, Isaac, Gia cóp, các ngôn sứ, các Tông đồ và Tin Mừng”. Điều đó có nghĩa rằng người Do thái và người Pha ri siêu khi từ khước sự trung gian của Đức Giêsu và khai trừ những ai tin vào Ngài (như người mù thuở mới sinh trong Ga 10) đều trở thành kẻ trộm cướp. Hiểu rộng hơn Đức Giêsu có thể nhắm đến những kẻ mạo nhận là Mêsia, tự giới thiệu mình như những kẻ được Thiên Chúa sai đến. Việc làm của họ dẫn đến sự phá hại và sự chết chóc của đàn chiên, trong khi Đức Giêsu là nguồn mạch sự sống cho đàn chiên. Một cách phổ quát hơn nữa, ở đây Đức Giêsu còn nhắm đến tất cả những ai muốn đưa ra một mặc khải ở ngoài con người Đức Giêsu. Việc ra đi được nêu lên ở c.9 có thể ám chỉ việc các ki tô hữu ra khỏi hội đường. Giống như ông Mô sê đã dẫn dắt Israel ra khỏi Ai cập, thì nay vị Mục tử Tình yêu cũng dẫn đầu đàn chiên ra khỏi Do thái giáo, để họ trở thành dân mới của Thiên Chúa, Ngài ban cho dân sự sống dồi dào. Mục tử Giêsu cho dân được ơn tái sinh bởi nước và Thánh Thần ( x. Ga3,3-6); Ngài cho dân ăn uống thỏa thuê bằng nước hằng sống và bánh hằng sống (x. Ga 4,14; 6,35).

    Sau nữa, Đức Giêsu quả quyết tất cả các chiên đều phải qua Ngài. Như thế các chiên sẽ đạt được hai lợi ích: chúng sẽ được sự sống tự do và được sự sống viên mãn. Ở đây dụ ngôn nhường chỗ cho diễn từ rõ ràng: Đức Giêsu tỏ mình như nguồn mạch sự sống vô tận cho tất cả mọi người. Ngài là cửa, ngoài Ngài ra không ai có thể hy vọng mang ơn cứu độ đến cho mọi người, nghĩa là ai muốn vào được nước trời thì phải qua một cửa duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Bởi vì qua sự trung gian của Ngài nhân loại được ơn cứu độ và được sự sống đời đời.

    Tình yêu của Mục tử Giêsu đối với đàn chiên còn được thể hiện rất rõ, bằng cớ là cho dù chiên có đông như thế hàng ngàn con, nhưng Ngài biết rõ từng con: “Tôi biết chiên của Tôi và chiên của Tôi biết Tôi” (Ga 10,14). Lúc này chúng ta hãy mường tượng xem Mục tử Giêsu đang đứng ở cửa chuồng chiên với một giọng ấm áp, đầy yêu thương đang gọi từng con chiên một để cho chúng ra ngoài đồng cỏ. Khi chiên ra tới cửa thì Ngài nhẹ nhàng xoa lên đầu nó rồi nói với nó bằng một lời đầy yêu thương và cứ như thế cho đến con cuối cùng ra khỏi chuồng chiên. Điều đó cho chúng ta thấy Ngài chăn chiên không phải là làm mướn để kiếm tiền, mà là nhiệm vụ chính của Ngài bởi lẽ chiên là của Ngài. Đức Giêsu nhấn mạnh ý tưởng này bằng kiểu nói “chiên của tôi”. Giữa chiên với Ngài có một sự biết nhau thân thiết. Trong Kinh Thánh “biết” (Hs 2,22) không phải chỉ là một sinh hoạt thuần túy tri thức, mà còn là một kinh nghiệm, một sự hiện diện. Một sự hiểu biết như thế sẽ đưa đến “tình thương” (Hs 6,6; 1 Ga 1,3). Nên nói “chiên của tôi biết tôi” là nói các môn đệ hiểu biết và thương yêu Đức Giêsu. Hơn nữa, sự hiểu biết và yêu thương giữa Đức Giêsu và các môn đệ được đầy tràn viên mãn, vì bắt nguồn từ sự hiểu biết và yêu thương giữa Chúa Cha và Chúa Con. Dấu hiệu tuyệt đỉnh của sự hiểu biết và yêu thương của Chúa Con đối với Chúa Cha và đối với các môn đệ là cây thập giá (Ga 13,1; 15,13): Yêu thương Chúa Cha đến nỗi vâng lời cho đến chết ( Ga14,30), yêu thương các môn đệ chịu chết để cứu độ (Ga13,1.34). Và đó là bằng chứng Ngài chính là Mục tử thật.

    Quả thế, đã biết bao lần Ngài xưng mình là Mục tử nhân lành. Đúng vậy Ngài là Mục tử của Tình yêu hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. “Tôi là mục tử”, trong Tin mừng Gioan nhiều lần Đức Giêsu dùng công thức “Ta ”. Những lần như thế không phải chỉ là một lời tự xưng suông mà còn hàm chứa một mặc khải cho người ta hiểu thêm về bản thân Ngài. Hơn nữa công thức này cò mang âm hưởng lời Thiên Chúa tự mặc khải ( x. Xh 3,13-14). Như vậy là bản chất của Ngài chính là mục tử, vì thế Ngài đã, đang và sẽ mãi mãi là mục tử tốt. “Tôi là mục tử tốt”, tính từ hy lạp kalos vừa có nghĩa ‘tốt’ (bon) vừa có nghĩa ‘đẹp’ (beau). ‘Tốt’ diễn tả tấm lòng, còn ‘đẹp’ diễn tả một hình ảnh tuyệt vời, mẫu mực lý tưởng. Vì thế ta cũng có thể nói ‘tôi là mục tử đẹp’. “Mục tử đẹp thí mạng sống mình vì đàn chiên” : nét đặc thù phân biệt ai là mục tử đẹp là nếu người đó dám hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Ý tưởng này được lặp lại 4 lần trong đoạn Tin mừng ngắn này (Ga 10,11.15.17.18). Chính khi hy sinh mạng sống mình, mục tử đẹp chứng tỏ được tinh thần trách nhiệm và tình yêu vô vị lợi tuyệt đối khi đón nhận và chăm sóc đàn chiên. Đàn chiên này chính là ‘xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi’, do đó bất cứ điều gì đụng tới đàn chiên đều động tới bản thân mục tử, bất cứ nguy hiểm nào đe dọa đàn chiên đều động tới con người mục tử, vì người mục tử đẹp phục vụ đàn chiên chứ không phải là kẻ chăn thuê. Vì kẻ chăn thuê không phải là chủ đàn chiên nên khi gặp nguy hiểm thì lo bảo vệ thân mình chứ không bảo vệ đàn chiên, không dám thí mạng vì đàn chiên. Đức Giêsu thực hiện một cách hoàn hảo chức năng mục tử vì Ngài là Con Người chia sẻ thân phận con người để dẫn đưa họ đến cuộc sống vĩnh cửu. Ngài sẵn sàng đương đầu với sói dữ, chịu sói ăn thịt chứ không chịu để đàn chiên bị sói ăn thịt. Sói là kẻ thù của Giáo hội (Ga12,31; 14,30). Khi thủ lãnh thế gian này đến (Ga 14,30) trong con người của Giu đa (Ga 6,70; 13,2.27) để bắt Đức Giêsu (Ga18,3), Ngài tiến ra đón kẻ thù, chấp nhận hy sinh mạng sống, xin cho các môn đệ được khỏi chết (Ga18,4.8). Nhưng sau khi chết, Ngài đã được tôn vinh, ‘thủ lãnh thế gian này’ bị sụp đổ và loài người được cứu thoát (Ga10,31-32).

    “Tôi còn có những con chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử”(Ga 10,16). Sứ mệnh và tình thương của người mục tử liên hệ tới tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, quốc gia, tôn giáo. Ở đây Đức Giêsu ám chỉ sứ vụ cứu độ phổ quát của Ngài ( x. Ga 4,35-38). ‘Những chiên khác’ ám chỉ tất cả dân ngoại sẽ tin vào Đức Giêsu. Ngài gọi là chiên của Ngài, trước nhất vì họ đã thuộc về Ngài rồi do sự tiền định, do ý hướng tốt của tâm hồn họ. Vì thế họ sẽ nghe tiếng Ngài khi Tin mừng được rao giảng cho họ qua những vị thừa sai (Cl 3,11) và Ngài sẽ hiệp nhất với họ. Và như thế “sẽ chỉ có một đàn chiên và một mục tử” nghĩa là chỉ có một mình Đức Giêsu và Thiên Chúa là mục tử và một đàn chiên là Giáo hội duy nhất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Giêsu Ki tô.

    Qua hình ảnh Mục tử trên đây, cũng gợi cho chúng ta những suy nghĩ về đời sống của mình. Là người ki tô hữu, chúng ta phải làm gì để trở nên con chiên ngoan hiền của Mục tử Giêsu Tình Yêu? Chắc hẳn điều đầu tiên là chúng ta phải biết vâng nghe Lời Chúa như Đức Giêsu đã nói “chiên của ta thì nghe tiếng ta” (Ga 10,27), nhờ đó chúng ta được tái sinh bởi Lời Chúa (Ga 10,18), chứ không phải được sinh ra bởi máu thịt của các Thánh. Vì như thế chúng ta mới thực sự là con chiên ngoan hiền của Ngài, luôn yêu mến Ngài. Nhưng để tình yêu đó được đậm đà, thắm thiết thì chúng ta phải đem những lời của Ngài ra thực hành ngay trong môi trường sống hiện tại, trong gia đình, lối xóm, cộng đoàn, giáo xứ, xã hội… Và như thế chúng ta mới thực sự là người yêu mến Ngài vì: “Ai yêu mến Thày thì sẽ giữ lời Thày” (Ga14,23). Nghe lời Chúa rồi mỗi người chúng ta phải biết tự thanh tẩy mình trong phục vụ của Hội thánh bằng những hy sinh, đau khổ âm thầm của mình, để chết đi cho tội lỗi và sống cho Chúa. Như Thánh Gioan đã viết “Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặt áo trắng, tay cầm cành lá thiên tuế. Họ là những người đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy áo trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,9.14b). Là con chiên ngoan hiền của Chúa chúng ta cũng phải biết gắn bó và theo Chúa như vợ chồng gắn bó với nhau và cùng nhau đồng hành, như lời Ngài nói “Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10,27): chúng ta ‘biết’ là chúng ta yêu mến gắn bó với Ngài. Chúng ta theo Giêsu là chúng ta đi vào con đường khổ giá cùng với Ngài ( Mt 10). Như thế chúng ta mới xứng đáng thuộc về đàn chiên của Ngài, được Ngài cứu độ và, cho sống, sống dồi dào trong nước của Ngài.

    Là một ki tô hữu chúng ta cũng được lãnh nhận sứ vụ mục tử mà Chúa đã trao phó cho chúng ta trong ngày lãnh nhận bí tích thánh tẩy. Vì thế noi gương Mục tử Giêsu chúng ta thi hành sứ vụ mục tử bằng cách chăm sóc, nâng đỡ nhau, như mục tử chăm sóc đàn chiên, và lưu tâm đến những người chung quanh mình. Đồng thời cũng phải thực sự thí mạng sống bằng cách sẵn sàng hy sinh về thể xác như bị hao mòn, về danh dự như bị hiểu lầm, bị bỏ vạ, về vật chất của cải …để duy trì tình yêu, sự hợp nhất và thánh hóa tha nhân. Chúng ta phải thấu hiểu và yêu thương những người chung quanh, để không chỉ sống với những người mình ưa thích  mà còn phải sống với cả những người mình không ưa thích nữa có như thế chúng ta mới có ảnh hưởng để đưa nhiều người về đàn chiên của Chúa. Và mỗi công việc chúng ta làm cho dù thành công hay thất bại, thì chúng ta luôn luôn ý thức là chúng ta làm vinh danh Chúa, cho Chúa để từ đó chúng ta có thái độ khiêm nhường, hiền lành, nhân từ, thương xót như Mục tử Giêsu.

    Lạy Chúa, Chúa là Mục Tử nhân lành đã yêu thương dẫn dắt chúng con và hiến mạng để cứu chúng con. Xin cũng giúp chúng con biết sống sao cho đẹp ý Chúa, để chúng con luôn luôn là con chiên ngoan hiền, thảo hiếu của Chúa. Đồng thời xin cũng giúp chúng con sống xứng đáng là một mục tử tốt nhưng lòng Chúa mong ước, để như thế đời sống của chúng con sẽ là một phản ảnh sống động của Chúa là vị Mục Tử Tình Yêu.

     Nguyễn Vịnh

    Số lượt xem: 1862 Gửi cho bạn bè      In trang này
    >> CÁC TIN KHÁC
     

     

    Tòa giám mục Phát Diệm
    75 Phát Diệm Đông – Kim Sơn – Ninh Bình
    ĐT: 02.293.862.058 – Fax: 02.293.862 724
    Email: tgmpdiem@gmail.com

    Ban biên tập
    Email: bbt@phatdiem.org
            Copyright 2011
    Tòa giám mục Phát Diệm
    Loading ...