3h:23 (GMT+7) - Thứ hai, 16/03/2026 Theo dõi MXH:

Kỷ yếu giáo phận Phát Diệm: Chương I-Lược sử giáo phận

20h:15 (GMT+7) - Thứ ba, 10/02/2026

KỶ YẾU GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM

125 năm hồng ân (1901-2026)

****

Chương I

LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM

Tải bản PDF 

 

I.    Giai đoạn ban đầu

1.   Các thừa sai Dòng Tên và Đàng Ngoài 

2.   Công nghị Phố Hiến

II.   Địa phận Tây Đàng Ngoài theo dòng thời gian

1.   Địa phận Tây Đàng Ngoài trong những năm đầu

2.   T khng hong đến n định

3.   Bách hại và phát triển

III.    Địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải - Phát Diệm.. 

1.   Tình hình địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải vào đầu thế kỷ 20

2.   Địa phận Phát Diệm được trao cho Giám mục đầu tiên người Việt Nam.. 

3.   Địa phận Phát Diệm sau năm 1954

4.   Thời kỳ hồi sinh, từ năm 1988

 

Ngày 15-4-1901, theo lời xin của Đức cha Pierre-Jean-Marie Gendreau Đông, Đại diện Tông tòa Tây Đàng Ngoài, Tòa Thánh đã ra sắc chỉ lập một Vùng Đại diện Tông tòa mới Đàng Ngoài Duyên Hi[1], bao gồm hai tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình, cả miền núi Châu Lào, và cả lãnh thổ người Mường tại Lạc Thổ. Thư chung về Lp địa phn x Thanh của Đức cha Gendreau Đông cho biết việc chia tách cụ thể diễn ra vào ngày 8-2-1902[2]. Việc thiết lập địa phận Thanh mở ra một trang mới trong lịch sử vùng đất kể trên. Nhân dịp kỷ niệm 125 năm của biến cố quan trọng này, chúng tôi xin lược lại đôi nét việc loan báo Tin Mừng trong giai đoạn ban đầu, sau đó là giai đoạn trước khi thiết lập địa phận mới và một số sự kiện quan trọng kể từ khi thành lập địa phận này.

  1. Giai đoạn ban đầu
  1. Các tha sai Dòng Tên và Đàng Ngoài

Một số tài liệu từng nói tới những nhà truyền giáo khác nhau có thể đã ghé qua vùng đất ngày nay là miền Bắc Việt Nam[3]. Tuy nhiên, tính chất xác thực của những tài liệu dạng này vẫn còn là đề tài gây nhiều nghi vấn và tranh cãi. Phải đợi tới khi các thừa sai Dòng Tên đặt chân lên vùng đất Đàng Ngoài, công việc loan báo Tin Mừng tại vùng đất này mới thực sự đem lại những kết quả khả quan.

Từ năm 1618, đã có những công việc chuẩn bị cho Cristoforo Borri đi Đàng Ngoài, nhưng kế hoạch không thành. Năm 1626, Giám sát Dòng Tên hai tỉnh Nhật-Hoa gửi cha Giuliano Baldinoti và tu huynh Giulio Piani đến Đàng Ngoài để xem xét tình hình. Hai vị được Thanh đô vương Trịnh Tráng tiếp đón nồng hậu, nhưng vì không biết tiếng Việt, vả lại nhiệm vụ của hai vị chỉ là thăm dò, nên sự hiện diện của hai vị không đem lại kết quả nào rõ nét, ngoài việc đặt nền móng cho những sứ giả Tin Mừng sẽ đến vùng đất này[4].

Sau khi cha Baldinotti và thầy Piani trở lại Áo Môn, ngày 12-3-1627, con tầu đưa hai thừa sai Pedro Marques và Alexandre de Rhodes, quen gọi là Đắc Lộ, rời Áo Môn. Một cơn bão đã đưa các vị vào Cửa Bạng, thuộc trấn Thanh Hoa, vào ngày 19-3-1627. Trong khi chờ đợi ra kinh đô Thăng Long (nay là Hà Nội), các ngài đã giảng đạo tại Van-no, là ngôi làng cách An Vực một con sông[5], vốn từng được một số người cho là xứ đạo gần cửa Thần Phù, tức là xứ Hảo Nho, nay thuộc giáo phận Phát Diệm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và đối chiếu những bản văn cũng như tấm bản đồ của cha Đắc Lộ cho thấy thông tin này thiếu sức thuyết phục. Rất nhiều người dân địa phương đã đón nhận Tin Mừng. Ngôi nhà thờ đầu tiên được làm phép vào ngày 3-5, với nhóm tín hữu ngày càng gia tăng. Khi đi đánh Đàng Trong trở về, Thanh đô vương Trịnh Tráng đưa hai cha về Thăng Long. Các vị đến phủ chúa tại Thăng Long vào ngày 2-7-1627. Thanh đô vương cho dựng nhà ở và nhà thờ cho hai vị ở gần phủ chúa[6]. Trong giai đoạn ban đầu này, cha Đắc Lộ đã lập nhóm các thày giảng[7], một tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Hội Thánh tại Việt Nam.

Cha Đắc L (1591-1660)

Dù năm 1630, cha Marques và cha Đắc Lộ bị buộc phải rời khỏi Đàng Ngoài, công việc loan báo Tin Mừng tại đây vẫn tiếp tục tiến triển tốt đẹp. Ngoài hội thày giảng, các thừa sai Dòng Tên đã để lại cho Hội Thánh tại Đàng Ngoài nhiều di sản có ảnh hưởng lâu dài trong đời sống đức tin, trong đó di sản nổi bật là ngm mười lăm s thương khó[8], cùng với những tài liệu chữ Nôm của cha Majorica[9]. Cha Đắc Lộ nhận thấy rằng cần phải có những vị Giám mục làm việc tại chỗ, ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài để điều hành công việc một cách hữu hiệu hơn, vì thế, cha đã trở lại Rôma và nước Pháp để vận động cho chương trình này. Năm 1659, Tòa Thánh thành lập hai Vùng Đại diện Tông Toà Đàng Ngoài và Đàng Trong, với hai vị Đại Diện Tông Toà tiên khởi là Đức cha François Pallu và Đức cha Lambert de la Motte, cũng là hai vị sáng lập Hội Thừa Sai Paris. Tuy nhiên, mãi đến năm 1666, cha François Deydier Phan, thuộc Hội Thừa sai Paris, mới đặt chân lên Đàng Ngoài và góp phần đưa việc rao giảng Tin Mừng ở Đàng Ngoài sang một giai đoạn mới, với sự tham gia tích cực của Hội Thừa sai Paris (MEP)[10].

Đức cha François Pallu và Đức cha Lambert de la Motte

Cần biết rằng sau cha Marques và cha Đắc Lộ, nhiều thừa sai Dòng Tên tiếp tục đến Đàng Ngoài. Tuy nhiên, vào năm 1663, tất cả các cha Dòng Tên đã bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài, mãi đến năm 1669, ba linh mục Dòng Tên là Domenico Fuciti, Filippo Fieschi, Baltasar da Rocha, và tu huynh Ignatio Martins mới trở lại vùng đất này[11]. Cuộc tương phùng của các tu sĩ Dòng Tên với cha Deydier và các thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris gắn liền với những xung đột về thẩm quyền cũng như những xung đột về vấn đề truyền chức linh mục cho người bản xứ. Những mối căng thẳng này kéo dài và để lại rất nhiều hệ lụy tiêu cực trong công việc loan báo Tin Mừng tại Đàng Ngoài.

  1. Công ngh Ph Hiến   

Trong khi Đức cha François Pallu quay trở lại Rôma để trực tiếp báo cáo cho Tòa Thánh về tình hình vùng truyền giáo, Đức cha Lambert de la Motte tìm cách viếng thăm Đàng Ngoài và Đàng Trong. Tại Đàng Ngoài, ngài tổ chức công nghị Phố Hiến, góp phần định hình công việc mục vụ tại nơi này.

Lên tầu tại vương quốc Xiêm ngày 23-7-1669, Đức cha Lambert đến cửa biển Đàng Ngoài ngày 30-8-1669[12]. Tháng 1-1670, tại thương điếm được Thanh đô vương chỉ định ở Phố Hiến, Đức cha Lambert truyền chức linh mục cho bẩy thầy, gồm bốn thầy giảng hạng nhất và ba thầy giảng hạng nhì: Máctinô Mát, 68 tuổi; Antôn Quế, 56 tuổi; Philípphê Nhân, 52 tuổi; Simon Kiên, 60 tuổi; Giacôbê Chiêu, 46 tuổi; Lêô Trung, 46 tuổi, và Vitô Tri, 30 tuổi[13]. Trước đó, ngày 15-6-1668, Đức cha Lambert đã truyền chức cho hai thầy Bentô Hiền và Gioan Huệ tại Ayuthia, vương quốc Xiêm[14]. Những vị này chính là những linh mục người Việt đầu tiên ở Đàng Ngoài.

Để thống nhất cách sống và đường lối hoạt động cho Hội Thánh non trẻ, ngày 14-2-1670, Đức cha Lambert quyết định triệu tập công nghị (synode) tại Phố Hiến, quen gọi là công đồng Phố Hiến, với thành phần tham dự gồm Đức cha Lambert, cha tổng đại diện Deydier, các thừa sai Jacques de Bourges và Gabriel Bouchard, cùng với chín vị linh mục người Việt. Bản văn công nghị gồm 34 điều[15] với những định hướng quan trọng sau đây:

  • Phân chia các xứ đạo tại Đàng Ngoài cho các linh mục và thầy giảng;
  • Theo gương Hội Thánh sơ khai, một quỹ chung được thiết lập để phục vụ đời sống Hội Thánh, đào tạo các chủng sinh và trợ giúp người nghèo;
  • Các linh mục phải để tâm huấn luyện các thiếu niên nam nữ muốn dâng mình cho Thiên Chúa;
  • Đặt Đàng Ngoài dưới sự bảo trợ của thánh Giuse.          

Bản văn công nghị cho biết cha Philípphê Nhân coi sóc trấn Thanh Hoa ngoại, trú sở tại xứ Ke-bo[16]. Cha Vitô Văn Trí coi sóc trấn Thanh Hoa nội, trú sở đặt tại xứ Van-no[17], tức xứ Vạn Nỗ (澫弩). Theo nghiên cứu của chúng tôi, địa danh này chính là Che bo được cha Đắc Lộ nhắc tới trong hành trình thi hành án phát vãng vào tháng 3-1629[18], chính là Kẻ Vó, tức xứ đạo Hoàng Mai thuộc giáo phận Phát Diệm[19]. Như vậy, Kẻ Vó và Vạn Nỗ chính là hai xứ đạo đầu tiên ở trấn Thanh Hoa ngoại và Thanh Hoa nội, cha Philípphê Nhân và Vitô Trí là hai cha xứ đầu tiên ở hai trấn này. Dường như trong cuộc xung đột giữa các cha Dòng Tên và các cha thuộc Hội Thừa Sai Paris, cùng với những cuộc bách hại, hai xứ đạo này dần bị mất vị thế và ảnh hưởng của mình.

Sau công nghị Phố Hiến, ngày thứ Tư Lễ Tro, tức 19-2-1670, Đức cha Lambert nhận lời khấn của hai chị Anê và Paula và trao cho các chị bản luật, chính thức thiết lập Dòng Mến Thánh Giá[20].

Từ khi các thừa sai Dòng Tên đầu tiên đặt chân lên Đàng Ngoài cho đến khi địa phận Đàng Ngoài được thiết lập, sau đó là công nghị Phố Hiến, diện mạo của Hội Thánh Đàng Ngoài đã dần dần được định hình ngày càng rõ nét.

  1. Địa phận Tây Đàng Ngoài theo dòng thời gian

Dù nỗ lực rất nhiều nhưng không thể đến được Đàng Ngoài, trong lần lưu trú cuối cùng tại châu Âu, 1677-1681, Đức cha François Pallu đã thuyết phục được Tòa Thánh chia Đàng Ngoài thành hai địa phận. Biến cố này đặt nền tảng cho một giai đoạn mới trong lịch sử loan báo Tin Mừng tại vùng đất này.

  1. Địa phn Tây Đàng Ngoài trong nhng năm đầu     

Ngày 25-11-1679, theo đề nghị của Đức cha Pallu, Đàng Ngoài được chia thành hai địa phận, Tây Đàng Ngoài và Đông Đàng Ngoài, lấy ranh giới tự nhiên là dòng sông làm mốc, từ phía bắc qua kinh đô ra tới cửa biển, cha Jacques de Bourges Gia được đặt làm Giám mục hiệu toà Auren, Đại Diện Tông Toà Tây Đàng Ngoài, cha Deydier Phan được đặt làm Giám mục hiệu toà Ascalon, Đại Diện Tông Toà Đông Đàng Ngoài. Cả hai vị đều thuộc Hội Thừa sai Paris. Vì lúc đó trong cả vùng chỉ có Đức cha Laneau tại Thái Lan, cha Jacques de Bourges phải đi Thái Lan để được tấn phong Giám mục. Lễ tấn phong Giám mục diễn ra tại Ayuthia ngày 17-5-1682. Sau lễ tấn phong, Đức cha trở lại Đàng Ngoài và ngày 21-12-1682, ngài tấn phong Giám mục cha Deydier Phan tại Phố Hiến[21]. Địa phận đã được phân chia, tuy nhiên, trên thực tế, hai Đức cha vẫn cùng nhau làm việc và cùng sống tại thương điếm ở Phố Hiến dưới vỏ bọc thương gia cho đến khi Đức cha Deydier qua đời vào ngày 1-7-1693. Sau cái chết của Đức cha Deydier, Đức cha Jacques de Bourges thi hành nhiệm vụ tại cả hai giáo phận ở Đàng Ngoài cho đến tháng 9-1700, khi linh mục Dòng Đaminh Raymundo Lezzoli Cao được bổ nhiệm làm Đại Diện Tông Tòa Đông Đàng Ngoài[22].

Về những ngôi nhà thờ trong giai đoạn này, báo cáo về Bộ Truyền Giáo của Đức cha Jacques de Bourges vào ngày 1-5-1699 cho biết tất cả các ngôi nhà thờ đều khá sơ sài, mái tranh, tường trát bùn, khung tre, thường phải tu sửa hằng năm. Bên cạnh nhà thờ, giáo dân thường làm một ngôi nhà nhỏ cho cha xứ trú ngụ[23]. Các linh mục và các thầy giảng không ở cố định một nơi suốt cuộc đời, nhưng được thuyên chuyển thường là trong khoảng ba năm từ hạt này qua một hạt khác, hoặc từ trấn này qua một trấn khác, nhằm giúp họ tránh khỏi những ràng buộc hay gắn bó không lành mạnh[24].

Đức cha Jacques de Bourges tiếp tục điều hành địa phận Tây Đàng Ngoài từ thương điếm ở Phố Hiến. Một trong những vấn đề nan giải dưới thời Đức cha là việc phân chia ranh giới hoạt động giữa các linh mục thuộc Hội Thừa Sai Paris và các linh mục Dòng Tên. Đức cha gặp rất nhiều khó khăn với các linh mục Dòng Tên, đặc biệt là với các cha Marini, Fuciti, và Ferreira, vì những vị này không nhìn nhận thẩm quyền của vị Đại Diện Tông Toà[25].

Đức cha Jacques de Bourges Gia và Đức cha François Deydier Phan rất bận tâm đào tạo hàng giáo sĩ địa phương. Con số đông đảo các linh mục người Việt hiện diện ở Đàng Ngoài đã giúp cho Hội Thánh địa phương đứng vững trong những cuộc bách hại. Bên cạnh đó, Đức cha Bourges Gia cũng còn để tâm chuẩn bị nhân sự tương lai của địa phận. Cha Bélot Lót được chọn và được tấn phong Giám mục tại Phố Hiến ngày 8-1-1702, hiệu tòa Basilée. Ít năm sau đó, vào năm 1707, nhân sự trong địa phận gồm ba thừa sai người Pháp và bẩy linh mục người Việt. Ba thừa sai là Đức cha Jacques de Bourges, Đức cha Bélot, và cha Guisain. Cả ba vị ở tại chủng viện nơi thương điếm. Đến năm 1707, đã có 28 thầy người Việt được truyền chức linh mục, nhưng chỉ có bẩy vị còn có thể làm việc: Cha Giuong Văn Hậu, 40 tuổi, coi sóc khoảng 2000 tín hữu ở xứ Đoài, trú sở tại hai nơi, Cua-hat và Han-sai; cha Bentô Văn Sử (Bổn), 59 tuổi, coi sóc khoảng 2900 tín hữu tại kinh đô, trú sở tại kinh đô và Ke-lo; cha Titô Bơn (Đỗ), 55 tuổi, coi sóc khoảng 6000 tín hữu tại bẩy huyện xứ Nam, cư trú tại Ke-dam; cha Melchior Liêu (Tào), 61 tuổi, coi sóc 1600 tín hữu ở năm huyện thuộc xứ Nam và xứ Thanh ngoại, cư trú tại Ke-hoi; cha Micae Hợp, 62 tuổi, coi sóc 2000 tín hữu tại xứ Thanh nội, cư trú tại Ke-trau; cha Bảolộc Văn Tri, 40 tuổi, coi sóc 3000 tín hữu ở xứ Nghệ, cư trú tại Phu-den và Co-lan; cha Giuse Phước (Hoa), 48 tuổi, coi sóc 4000 tín hữu tại sáu giáo xứ ở xứ Nghệ và Bố Chính, trú sở tại Ke-set và Ngai-lang[26].

Theo ghi chép này, số tín hữu trong các xứ Thanh ngoại và Thanh nội, thêm vào năm huyện của xứ Nam là 3800, vì số tín hữu thuộc các cha Dòng Tên ở những vùng này rất đông đảo, tới 6313 người[27]. Tài liệu vào ngày 30-8-1701 ghi lại tên những nhà thờ trong những vùng này mà các cha Dòng Tên đòi thuộc quyền mình ở xứ Thanh Ngoại là Ke-do, Ke-bat, Lang-bat, An-van, Phuc-nhac, Co-da, Than-phu, Ke-doi, Trai-nghe, Ke-de, Ke-dien, Ke-cuot; ở xứ Thanh nội là Gia-thi, Bang-hoa, Dou-lam, Bai-dien, Bien-ha, Bien-thi-tong, Ke-danh, Pho-cat; ở xứ Nam là Ke-gioi, Ke-su, Ke-gao, Chen-ninh, Ke-bang, Ke-tung. Tình trạng chia rẽ giữa hai nhóm thừa sai, kéo theo con số đông đảo các tín hữu, tới lúc đó đã là hơn 30 năm[28].       

Cùng với những khó khăn do chia rẽ nội bộ, năm 1705, rồi sau đó từ năm 1712, những cuộc bách hại dữ dội xảy ra tại Đàng Ngoài, thương điếm tại Phố Hiến bị tịch biên và phá hủy, ba vị thừa sai là Đức cha Bourges Gia, Đức cha Bélot Lót, cha Guisain Chi bị bắt giam, sau đó bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài vào năm 1713. Đức cha Jacques de Bourges đi qua Thái Lan và qua đời vào ngày 9-8-1714 tại Ayuthia, còn Đức cha Bélot Lót và cha Guisain Chi đã tìm cách trốn khỏi thuyền trục xuất để đến Nghệ An[29].

Đức cha Bélot Lót xin đặt cha Guisain Chi làm Giám mục kế vị, nhưng Đức cha qua đời vào ngày 2-1-1717 tại Trang Đen, Nghệ An, trong khi việc bổ nhiệm chỉ được thực hiện vào ngày 3-12-1718. Đức Giám mục tân cử Guisain Chi, hiệu tòa Laranda, được Đức cha Thomas Sestri tấn phong ở Kẻ Sặt ngày 4-5-1721. Cơn bách hại dưới thời An đô vương Trịnh Cương trở nên dữ dội hơn, Đức cha phải lánh vào Bố Chính, sau đó ngài qua đời ở Trang Đen, Nghệ An, vào ngày 17-11-1723[30].

Khi Đức cha Guisain Chi qua đời, địa phận Tây Đàng Ngoài có 15 linh mục: ba thừa sai người Pháp là cha chính Louis Néez Lui 43 tuổi và cha chính Pierre de Saint-Gervais 40 tuổi, François Cordier 40 tuổi; 12 linh mục người Việt là Giuse Văn Phước (Hoa) 64 tuổi, Titô Bơn (Đỗ) 71 tuổi, Bảolộc Văn Tri 56 tuổi, Giuong Văn Hậu 56 tuổi, Antôn Văn Chí 64 tuổi, Tôma Văn Mĩ 55 tuổi, Máccô Thuần, Đôminicô Minh (Thế) 46 tuổi, Bảolộc Bàng 59 tuổi, Vitô Thư 48 tuổi, Tôma Dồng 49 tuổi, Inhaxiô Hoan 44 tuổiHai cha chính và hàng linh mục được đặt dưới quyền Đức cha Thomas Sestri, Đại Diện Tông Tòa Đông Đàng Ngoài[31].        

  1. T khng hong đến n định

Sau khi Đức cha Guisain Chi qua đời, địa phận Tây Đàng Ngoài lâm vào tình trạng trống tòa khá lâu, sau đó mới dần ổn định.

Cha chính Louis Néez Lui được đề cử làm Đại Diện Tông Tòa Tây Đàng Ngoài, nhưng dường như có một sự e ngại nào đó khiến cha Louis Néez phải điều hành địa phận nhưng việc đặt ngài làm Giám mục cứ bị trì hoãn. Năm 1731, ngài phải tự biện hộ trước nhiều những ý kiến về bản thân ngài, như về sự lạm quyền, về những lệch lạc liên quan đến việc phụng tự, về việc tha vạ cho những kẻ chối đạo. Về những điều này, người thì cho rằng ngài quá nghiêm khắc, kẻ lại cho rằng ngài quá dễ dãi. Ngài cũng bị tiếng là theo lối sống đạo khắc khổ của Jansenius. Trong mọi trường hợp, cha Louis Néez luôn bày tỏ rõ ràng sự vâng phục hoàn toàn đối với Toà Thánh.

Bên cạnh những nghi ngờ và do dự từ phía những người khác, nhất là từ phía Bề Trên, cha Louis Néez còn phải đối diện với một vấn đề rất lớn tại Đàng Ngoài vào thời điểm này, đó là việc phân chia ranh giới hoạt động mục vụ giữa những người thuộc quyền ngài với các tu sĩ dòng Đaminh, dòng Âutinh, và nhất là với Dòng Tên. Cũng trong thời gian này, ngài tích cực đi thăm viếng các vùng khác nhau trong địa phận và quan tâm rất nhiều đến việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương. Sau nhiều do dự, tháng 9-1738, cha Louis Néez được đặt làm Giám mục Đại Diện Tông Toà Tây Đàng Ngoài, hiệu toà Comana (Céomanie). Ngài được Đức cha Hilariô de Jesu Hi, Đại Diện Tông Toà Đông Đàng Ngoài, tấn phong ngày 22-11-1839 tại nơi cư trú của Đức cha Hilariô Hi[32].

Có thể nói Đức cha Louis Néez chính là nhà kiến thiết địa phận Tây Đàng Ngoài trong thế kỉ 18, qua thời gian phục vụ lâu dài, gần 50 năm, qua việc giải quyết nhiều vấn đề lớn vào thời đó, qua việc lo lắng đào tạo cho địa phận nguồn nhân lực dồi dào, cùng với bận tâm xây dựng và dịch chuyển trung tâm địa phận tại Kẻ Vĩnh. Trong đời mình, ngài đã chọn ba Giám mục phó, Đức cha Deveaux vào năm 1746, Đức cha Bennetat vào năm 1756, và Đức cha Bertrand Reydellet Bê cũng vào năm 1756. Ngoài ra, ngài còn để lại một tài liệu rất giá trị về tiểu sử của 53 linh mục người Việt đầu tiên tại Đàng Ngoài.

Cần biết rằng chính Đức cha Néez và các thừa sai người Pháp không dành riêng cho mình một hạt riêng biệt nào, nhưng các ngài cùng dồn sức vào việc điều hành tổng quát công việc của địa phận, nhất là việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương, các thầy giảng và các tiểu chủng sinh, cùng với việc thăm viếng và hướng dẫn các linh mục người Việt. Cả Giám mục và linh mục đều để tiền trợ cấp và tiền bổng lễ làm của chung, cùng theo đuổi nếp sống nghèo và cùng nhau dấn thân làm việc một cách vô vị lợi[33].

Khi Đức cha Louis Néez Lui qua đời ở Trại Nhồi, ngày 19-10-1764, hàng Giám mục và giáo sĩ địa phận Tây Đàng Ngoài có 33 vị: Đức cha Reydellet, hiệu tòa Gabale, các thừa sai Michel Savary 35 tuổi và Nicolas Bricard 29 tuổi; 30 linh mục người Việt gồm Bentô Nghiêm 64 tuổi, Piô Lý 62 tuổi, Vixentê Ngãi 61 tuổi, Bảolộc Thanh 67 tuổi, Antôn Cần 70 tuổi, Máctinô Luận, Anrê Nhượng (Cai) 78 tuổi, Stêphanô Thật 62 tuổi, Giuong Hiển 55 tuổi, Giuong Hiểu (Tràng) 57 tuổi, Giuong Tình 58 tuổi, Phanxicô Huân 62 tuổi, Phanxicô Hậu (Phan) 55 tuổi, Bảolộc Giai 50 tuổi, Vitô Tuyên, Anrê Liêu 48 tuổi, Đôminicô Phức (Đạt) 45 tuổi, Phêrô Triêm (Đẵng), Bảolộc Tài, Z1757, Denis Điển 59 tuổi, Piô Viên 59 tuổi, Giuse Chấn 49 tuổi, Antôn Kiếm 44 tuổi, Inhaxiô Trạch, Phanxicô Báu 44 tuổi, Tôma Lưu 48 tuổi, Tôma Văn Tú 38 tuổi, Banabê Chương 44 tuổi, Lui Tô 51 tuổi[34].     

Có lẽ số thống kê với những tên tuổi cụ thể trên đây chỉ tính riêng các thừa sai thuộc Hội Thừa Sai Paris và các linh mục người Việt trực tiếp dưới quyền các thừa sai của Hội, vì một thống kê khác cho biết vào thời điểm Đức cha Bertrand Reydellet kế vị Đức cha Néez, trong địa phận Tây Đàng Ngoài có 90000 tín hữu, phân bố thành khoảng 20 hạt, với 3 linh mục thuộc Hội Thừa Sai, 36 linh mục bản xứ, 3 hoặc 4 tu sĩ Dòng Tên người châu Âu, 3 tu sĩ Dòng Tên người bản xứ, 11 linh mục triều người bản xứ phụ thuộc vào các cha Dòng Tên. Thống kê này cho thấy tình trạng phức tạp, với rất nhiều chia rẽ và xung đột vẫn tiếp diễn. Tình trạng này chỉ chấm dứt khi Đức Clêmentê XIV giải thể Dòng Tên vào ngày 20-11-1773[35].

Một ghi chép khác của chính Đức cha Reydellet cho biết tình hình cụ thể trong địa phận Tây Đàng Ngoài vào những năm 1770-1771 như sau: Toàn địa phận có 4 thừa sai và 34 linh mục bản xứ. Trong số các linh mục bản xứ, 11 vị, vì già hoặc yếu, không còn thi hành sứ vụ. (1) Cha chính Savary, cùng với 11 linh mục bản xứ (một vị bị đau yếu), coi sóc xứ Nghệ, bao gồm cả Hà Tĩnh và Bố Chính. Toàn Xứ Nghệ có 12 nhà các nữ tu Mến Thánh Giá. (2) Xứ Thanh được chia cho 5 linh mục bản xứ, vốn do cha Thiébaut đứng đầu, nhưng cha Thiébaut đã được đưa về dạy thần học. Trong xứ này có một nhà các nữ tu Mến Thánh Giá. (3) Xứ Đoài chỉ có hai linh mục, vì có ít giáo dân. Trước đây vùng này có rất đông giáo dân, nhưng vì từ 30 năm nay, xứ này bị quân phiến loạn cướp phá nên số giáo dân giảm sút. (4) Xứ Nam số linh mục bản xứ còn lại làm việc ở xứ Nam. Trong xứ này có 8 nhà các nữ tu Mến Thánh Giá[36].

Đức cha Reydellet Bê tiếp tục công việc của vị tiền nhiệm, xây dựng và ổn định nhà chung và nhà tràng ở Kẻ Vĩnh. Cuộc bách hại vào năm 1773 khiến Đức cha nhiều lần phải chuyển chỗ ở, khi ở Kẻ Vĩnh, khi ở Trại Nhồi. Đức cha qua đời tại Kẻ Vĩnh ngày 18-7-1780, trong khi người kế vị ngài, Đức cha Jean Davoust Giuong, hiệu tòa Céram, vẫn còn ở châu Âu giải quyết việc phân chia địa giới hoạt động của các dòng tu tại Đàng Ngoài và thảo luận những qui luật của Hội Thừa Sai Paris.

Trở lại địa phận Tây Đàng Ngoài vào đầu năm 1784, Đức cha Davoust tiếp tục công trình đào tạo hàng giáo sĩ địa phương, phong chức nhiều linh mục và gia tăng số thầy giảng trong địa phận. Ngài chọn cha Jacques Longer Gia, lúc đó đang ở Đàng Trong, làm Giám mục phó. Vị Giám mục tân cử được bổ nhiệm ngày 3-4-1787, hiệu tòa Gotyrne, nhưng mãi đến ngày 10-12-1890 ngài mới nhận được sắc phong. Trước đó hơn một năm, ngày 17-8-1789, Đức cha Jean Davoust đã qua đời tại Kẻ Sui.

Trong khoảng 40 năm đứng đầu địa phận Tây Đàng Ngoài, Đức cha Longer Gia đã góp phần củng cố địa phận trong nhiều lãnh vực. Đối với hàng giáo sĩ và các nữ tu Mến Thánh Giá trong địa phận, tháng 10 năm 1795, ngài tổ chức công nghị địa phận, quen gọi là công đồng Kẻ Vĩnh, để bàn bạc về những qui tắc trong đời sống. Kết quả của công nghị này là bản văn về những qui tắc về việc cử hành các bí tích, về kỉ luật mà các thừa sai, các linh mục bản xứ, các thầy giảng và những người Nhà Đức Chúa Trời phải theo. Công nghị này cũng thêm 11 điều khuyên vào bản Phép dòng ch em mến câu rút. Đối với những người chuẩn bị tiến lên bậc thầy giảng, ngài soạn một cuốn sách hướng dẫn và yêu cầu các ứng viên phải học thuộc lòng.

Từ kinh nghiệm nhiều năm làm việc tại Đàng Trong, với bộ Thánh giáo yếu lý do Đức cha Bá Đa Lộc biên soạn, ngài bắt tay biên soạn một bộ sách giáo lí hỏi thưa bằng một ngôn ngữ gần gũi dễ hiểu hơn rất nhiều, cũng với nhan đề Thánh giáo yếu lý, quen gọi là Sách bn. Sách xuất bản lần đầu tiên năm 1802 tại Kẻ Vĩnh và trở thành sách giáo lý căn bản tại nhiều địa phận miền Bắc cho tới tận cuối thế kỉ 20. Ngài cũng soạn các bộ sách khác: By phép sa-ca-ra-men-tô, Bn ging đạo tht, Sách chân đạo yếu lý. Bên cạnh đó, ngài cũng canh tân nghề in sách trong địa phận. Trước đó, sách chữ Nôm trong địa phận đều là những bản chép tay. Đức cha Longer Gia không những lập nhà in, mà còn thay đổi cách in: Đức cha cho các thầy giảng làm các chữ riêng để sắp lại, chứ không khắc mộc bản như người ta vẫn quen làm trước đó.

Trong hoàn cảnh loạn lạc và chiến tranh liên miên, Đức cha vẫn cố gắng đi thăm khắp các vùng trong địa phận. Trong bản báo cáo gửi Bộ Truyền Giáo gần một năm trước khi qua đời, ngày 16-4-1830, Đức cha Longer Gia cho biết tình hình nhân sự của địa phận như sau: 2 Giám mục, 6 thừa sai, 87 linh mục bản xứ, 174000 Kitô hữu trong 50 giáo xứ, 1 đại chủng viện gồm 20 thầy thần học và 60 thầy triết học, 2 tiểu chủng viện gồm khoảng một trăm học trò[37].

Đức cha Jacques Longer Gia qua đời vào ngày 8-2-1831, tại Kẻ Vĩnh ở tuổi 79. Địa phận Tây Đàng Ngoài sẽ trải qua một thời kỳ bách hại khắc nghiệt chưa từng có trong lịch sử của mình.

  1. Bách hi và phát trin   

Giai đoạn lịch sử từ sau khi Đức cha Jacques Longer Gia qua đời cho đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn địa phận Tây Đàng Ngoài nói riêng và Hội Thánh tại Việt Nam nói chung trải qua những cuộc bách hại khủng khiếp nhất. Tuy nhiên, từ đống tro tàn, hạt giống đức tin vẫn tiếp tục nảy mầm và không ngừng phát triển.

Chỉ ít năm sau cái chết của Đức cha Longer Gia, ngày 6-1-1833, vua Minh Mạng ra dụ cấm đạo. Đức Giám mục kế vị Joseph-Marie Havard Du, hiệu tòa Castorie, đã phải rỡ bỏ ngôi nhà nguyện bằng gỗ tại chủng viện Kẻ Vĩnh, chia các thầy thành từn nhóm 12 thầy và nhờ các cha ở những giáo xứ lân cận Kẻ Vĩnh trông coi các thầy. Nhưng cuộc bách hại ngày càng dữ dội. Ngày 11-10-1833, cha Phêrô Lê Tùy chịu án chém đầu tại Nghệ An. Ngày 14-12-1833, 450 quân tới vây làng Vĩnh Trị, một thầy già bị bắt, Đức cha Havard Du thoát tay quan quân trong gang tấc, sau đó phải liên tục thay đổi chỗ ở, khi thì ở dưới hầm, khi thì trốn trong những căn nhà biệt lập[38]. Đức cha buộc phải rời khỏi Kẻ Vĩnh, trốn chạy nay đây mai đó, không ít lần thoát hiểm trong gang tấc. Tuy nhiên, ngài nhận được sự an ủi từ lòng can đảm và trung thành của các linh mục, thầy giảng và chủng sinh trong địa phận.

Những năm sau đó, cơn bách hại đôi khi dịu xuống, nhưng để rồi lại bùng lên dữ dội hơn. Ngày 19-6-1835, cha Anrê Dũng Lạc, thầy phó tế giúp ngài, cùng với 30 giáo dân bị bắt tại Kẻ Sui. Ngày 25-1-1836, vua Minh Mạng ban hành một sắc chỉ cấm đạo mới. Ngày 20-6-1837, cha Cornay Tân bị bắt tại Bầu Nọ và bị xử lăng trì ngày 20-9-1837 tại Sơn Tây. Ngày 20-4-1836, thầy giảng Phanxicô Xaviê Nguyễn Cần bị bắt ở Kẻ Vác, chịu xử giảo ngày 20-11-1837 tại Cầu Giấy. Ngày 23-8-1837, cha Phaolô Phạm Khắc Khoan, thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh bị bắt tại Đông Biên[39]. Sang năm 1838, cuộc bách hại trở nên dữ dội hơn. Triều đình ra lệnh xử tử bất cứ ai chứa chấp các thừa sai. Ở Nam Định - Hưng Yên, sau vụ bắt được thầy giảng Vũ Văn Lân với nhiều thư từ gửi cho các thừa sai, rồi bị vua Minh Mạng trách phạt nặng nề, tổng đốc Trịnh Quang Khanh trở thành người bách hại đạo điên cuồng. Trong hoàn cảnh ấy, Đức cha Havard Du và một số thầy giảng chạy về phía rừng Bạch Bát. Tại đây, quá kiệt sức, Đức cha qua đời ngày 7-6-1838 trong một túp lều xơ xác[40].

Trước khi trút hơi thở, ngày 2-6, theo năng quyền Tòa Thánh, Đức cha quyết định đặt cha Borie Cao làm Giám mục kế vị, nếu không thực hiện được điều đó, thì cha Retord Liêu làm Giám mục kế vị. Cha Borie Cao nhận được quyết định này khi đang bị giam ở Quảng Bình. Đức cha Borie Cao bị xử trảm vào ngày 24-11-1838 tại Đồng Hới.   

Đức cha Borie Cao

Chính trong bối cảnh khó khăn này, Đức cha Pierre Retord Liêu, hiệu tòa Acanthe, tiếp nhận nhiệm vụ đứng đầu địa phận Tây Đàng Ngoài. Thống kê vào năm 1839 cho biết tình hình địa phận Tây Đàng Ngoài vào thời điểm này: “1 Giám mc, chết do khn cc vì Đức tin, 8 tha sai thuc Hi Tha Sai Paris và 80 linh mc địa phương, nhiu v t đạo, 2 trường chng vin và 40 tu vin b phân tán; 1200 nhà nguyn, hu hết b phá hu, 180000 tín hu.[41] Ngày 16-1-1841 vua Minh Mạng băng hà. Đức cha Retord đã tranh thủ thời gian tương đối yên bình vào đầu thời Thiệu Trị để đi thăm khắp nơi, củng cố tinh thần của các linh mục, các thầy giảng, và các tín hữu, đồng thời cho làm thống kê trong toàn địa phận để chuẩn bị cho dự án phân chia địa phận.

Đức cha Pierre Retord Liêu

Tại bẩy tỉnh phía bắc của địa phận, tức Thanh Hóa[42], Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang, có “3 tha sai, 58 linh mc bn x, 207 thy ging, 254 chng sinh, 682 hc trò để làm thy ging, 453 n tu, 29 giáo x, 831 h đạo, 117870 Kitô hu.”[43] Ở Phần đất gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, cùng với phần phía bắc Bố Chính, có “4 tha sai, 35 linh mc bn x, 69 chng sinh, 75 thy ging, 290 hc trò để làm thy ging, 220 n tu, 19 giáo x, 345 h đạo, 66350 Kitô hu.”[44] Trong toàn địa phận có tám chủng viện Kẻ Non, Bái Vàng, Trang Nứa, Kẻ Lường, Kẻ Là, Làng Doãn.

Ngày 27-3-1846, Tòa Thánh chấp thuận việc phân chia địa phận và đặt Đức cha Gauthier Hậu làm Giám mục hiệu tòa Emmau, Đại Diện Tông Tòa của vùng đất gồm các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và bắc Bố Chính, với tên gọi Nam Đàng Ngoài.

Vào thời điểm phân chia địa phận, năm 1846 vùng Ninh Bình có 26596 giáo dân trong 6 giáo xứ Thần Phù, Phúc Nhạc, Thông Xuân, Bạch Bát, Lạc Thổ, Ngọc Hao; vùng Thanh Hóa có 11030 giáo dân trong 3 giáo xứ Cửa Bạng, Kẻ Trạn và Kẻ Ngỡ[45].

Trong những năm cuối đời, Đức cha Retord Liêu phải chứng kiến những cuộc bách hại ngày càng dữ dội, đặc biệt, từ sau những cuộc đụng độ của quân triều đình với tầu Pháp ở Đà Nẵng, năm 1856. Ngày 2-7-1857, làng Vĩnh Trị bị vây, cha Phaolô Lê Bảo Tịnh bị bắt. Đức cha Retord và các thừa sai bắt đầu những ngày lang thang, chịu cảnh đói khổ bệnh tật trong những miền rừng núi. Ngày 19-6-1858, làng Vĩnh Trị cùng với những cơ sở quan trọng của địa phận bị tàn phá tan hoang. Đức cha Retord Liêu qua đời ngày 22-10-1858 giữa miền rừng núi hoang vu thuộc họ đạo Đồng Bàu[46].

Đức cha Jeantet Khiêm

Đức cha Charles Jeantet Khiêm, hiệu tòa Pantacomie, lên kế vị đã nhanh chóng âm thầm tấn phong Giám mục cho cha chính Theurel Đông[47] vào ngày 6-3-1859. Cuộc bách hại vẫn tiếp tục và đạt đến mức độ tàn khốc nhất với dụ phân-tháp. Nhiều làng công giáo bị phá hủy. Rất nhiều chứng nhân đức tin bị đi đày, bị bỏ tù, hay bị giết chết. Chỉ riêng trong địa phận Tây Đàng Ngoài, những chứng nhân chịu tử đạo từ năm 1858 đến 1863 và được làm án gửi sang Rôma là 384 vị[48]. Sau hòa ước Nhâm Tuất, 5-6-1862, tình trạng của các tín hữu có dễ dàng hơn đôi chút, nhưng họ vẫn bị coi là hạng cùng đinh trong xã hội[49]. Liền sau đó là những vụ đụng độ và bách hại do nhóm các sĩ phu gây ra. Cũng vào thời điểm này, Đức cha Jeantet Khiêm qua đời vào ngày 24-7-1866. Khi lên kế vị, Đức cha Theurel Chiêu đã chọn cha chính François Puginier Phước làm Giám mục phó. Thánh 12-1867, Đức cha Theurel Chiêu dẫn Đức cha Puginier Phước đi thăm các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa với ý định lập địa phận mới ở vùng này và trao cho Đức cha Puginier. Đức Giám mục tân cử được tấn phong ngày 26-1-1868, hiệu tòa Mauricastre. Đức Giám mục phó đến ở Phúc Nhạc lập chủng viện tại đây nhằm chuẩn bị nhân sự cho địa phận mới. Tuy nhiên, cuối năm đó, ngày 3-11-1868, Đức cha Theurel Chiêu qua đời. Dự án chia địa phận bị gác lại trong rất nhiều năm[50]. Cũng cần biết rằng từ năm 1865, khi được Đức cha Jeantet Khiêm bổ nhiệm làm cha xứ Phát Diệm, cha Phêrô Trần Lục đã chuẩn bị một dự án xây dựng quy mô. Công trình của ngài sẽ trở thành trung tâm của địa phận mới vào đầu thế kỷ 20.

Đức cha Theurel Chiêu

Đức cha Puginier Phước bắt tay vào việc xây dựng lại địa phận về nhiều phương diện. Đức cha giảng tĩnh tâm cho các linh mục trong địa phận, ấn định lại những quy tắc đời sống cho những người thuộc Nhà Đức Chúa Trời và các nữ tu Mến Thánh Giá, gặp gỡ các quan chức địa phương để đòi hỏi quyền tự do tôn giáo theo hòa ước. Đức cha Puginier cũng khởi sự việc điều tra các vụ án tử đạo. Song song với những công việc này, Đức cha quyết định đặt trung tâm địa phận ở Kẻ Sở và cho xây cất nhiều công trình quan trọng tại đây như chủng viện, nhà in, nổi bật nhất là Nhà Thờ Chính Tòa Sở Kiện, sau đó là Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Sau khi quân Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, năm 1873, cuộc tàn phá của các sĩ phu trở nên dữ dội hơn. Hàng ngàn người công giáo bị giết, nhiều giáo xứ bị cướp phá. Tuy nhiên, khi cơn bách hại dịu xuống, một làn sóng trở lại đạo xuất hiện. Từ năm 1877, mỗi năm hàng ngàn người lớn xin chịu phép rửa. Năm 1878, Đức cha Puginier mở ra chương trình đem Tin Mừng sang đất Lào. Chiến dịch chiếm Bắc Kỳ của Henri Rivière vào năm 1882 lại gây ra một cơn bách hại mới của giới sĩ phu. Bẩy thừa sai và hàng trăm người công giáo bị giết chết, rất nhiều nhà thờ bị đốt phá. Nhưng sau cuộc bách hại này, từ năm 1887 đến 1890, chỉ trong vòng bốn năm, 20694 người lớn lãnh nhận phép rửa. Công việc đào tạo linh mục cũng tiến triển rõ rệt. Dưới thời mình, Đức cha Puginier đã truyền chức cho 120 linh mục bản xứ. Đức cha qua đời ngày 25-4-1892[51].  

Đức cha Puginier Phước

Tiếp nối công việc của Đức cha Puginier Phước, Đức cha Pierre Gendreau Đông, hiệu tòa Chrysopolis, củng cố địa phận hướng tới những việc phân chia mà vị tiền nhiệm của ngài từng dự tính. Ngày 15-10-1895, hai cha Paul Ramond và Alexandre Marcou được tấn phong Giám mục, Đức cha Paul Ramond Lộc làm Giám mục địa phận Thượng Đàng Ngoài vừa được thiết lập, Đức cha Alexandre Marcou Thành làm Giám mục phó, chuẩn bị cho việc lập địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải, sẽ được thực hiện vào đầu năm 1901. Trong lần ghé thăm Phát Diệm vào cuối năm 1896, Đức cha Marcou Thành đã ngỏ lời với Cụ Sáu rằng ngài muốn lập trung tâm của địa phận mới ở Phát Diệm. Cụ Sáu rất vui mừng và đã tiến hành các công việc chuẩn bị[52].

Đức cha Pierre Gendreau Đông

Như vậy, từ địa phận duy nhất Tây Đàng Ngoài vào năm 1679, đến năm 1901, ngay giữa những cơn bách hại dữ dội chưa từng có, ba địa phận mới đã được thiết lập: Nam Đàng Ngoài năm 1846, Thượng Đàng Ngoài năm 1895, và Đàng Ngoài Duyên Hải năm 1901.

  1. Địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải - Phát Diệm  

Sắc lệnh thiết lập địa phận Đàng Ngoài Duyên Hải được Đức Lêô XIII ký vào ngày 15-4-1901. Tuy nhiên, mãi đến gần một năm sau, ngày 8-2-1902, việc chia tách mới thực sự diễn ra. Từ đây, vùng đất  thường được gọi là địa phận Thanh sẽ có cuộc sống riêng như viễn kiến của Đức cha Theurel Chiêu vào năm 1867[53].

  1. Tình hình địa phn Đàng Ngoài Duyên Hi vào đầu thế k 20

Được tách ra từ địa phận Tây Đàng Ngoài, địa phận mới gồm 24 thừa sai người Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, và 48 linh mục người Việt, 18 thầy tràng lý đoán, 112 thầy giảng, 145 thầy tràng Latin, khoảng 85000 tín hữu với 27 xứ ở Thanh Hóa - Ninh Bình và 5 xứ ở châu Lào, ba nhà Mến Thánh Giá Bạch Bát - Phúc Nhạc - Thành Đức (Cách Tâm)[54]. Dưới đây là thống kê các giáo xứ cùng với số giáo dân trong vùng Thanh Hóa - Ninh Bình vào năm 1846 và năm 1902[55].

 

1846

1902

 

 

Phúc Nhạc

10600

 

  1. Phúc Nhạc = 3500
  2. Hiếu Thuận = 4415
  3. Cách Tâm = 6190
  4. Dưỡng Điềm = 3425
  5. Tôn Đạo = 5372
  6. Hướng Đạo = 3040
  7. Phát Diệm = 11810

Thông Xuân

1598

  1. Yên Vân = 1662
  2. Ninh Bình = 1583

Bạch Bát

3482

  1. Bạch Bát = 2160
  2. Thiện Dưỡng = 1638

Ngọc Ao

4000

 

  1. Đồng Chưa = 3640
  2. Làng Rào = 2824
  3. Tuân Dụ = 1741

Yên Lộc

3158

  1.  Lãng Vân = 2268

 

Thần Phù

4916

  1. Hảo Nho = 2510
  2. Điền Hộ = 2022
  3. Kẻ Dừa = 2036
  4. Tam Tổng = 1000

 

Kẻ Ngỡ

4916

  1. Nhân Lộ = 2224
  2. Phong Ý = 1062
  3. Kẻ Bền = 2460

 

Kẻ Trạn

3687

  1.  Thanh Hóa = 850
  2. Mĩ Điện = 2020
  3. Kẻ Láng = 3007

Cửa Bạng

2427

  1.  Cửa Bạng = 4070
  2. Phúc Lãng = 1500

 

Năm xứ thuộc châu Lào gồm Yên Khương, Mường Khiết, Hồi Xuân, Na Hàm, và Na Môn vừa trải qua một cuộc bách hại[56]. Vào ngày 10-2-1895, cha chính xứ Jules Verbier Ngôn bị sát hại tại Yên Khương, cha phó Jean Soubeyre Dũng buộc phải trở về Thanh Hóa. Tình hình hết sức khó khăn, vì cha Verbier Ngôn là thừa sai thứ 11 bị sát hại trong vùng này[57].  

Ngày 8-2-1902, lễ nhận địa phận được long trọng tổ chức tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc. Sau đó, Đức cha về Tòa Giám Mục ở Phát Diệm, đặt cha Jean Bareille Sơn làm cha chính và quản hạt vùng Phát Diệm, cha Jean-Pierre Doumecq Dụ làm thư ký Tòa Giám Mục.

Đức cha Alexandre Marcou Thành

Trước khi thành lập địa phận, từ tháng 3-1899, cha Alexandre Pilon Long, lúc đó đang làm quản lý nhà chung Kẻ Sở, được chuyển về Ninh Bình để xây dựng nhà thờ Ninh Bình. Từ năm 1903, cha Pilon Long tới Phát Diệm để xây dựng các cơ sở cho địa phận mới gồm nhà chung Phát Diệm, nhà tràng Thượng Kiệm, nhà thương Phu Vinh.

Đức cha Marcou Thành bắt tay vào việc kiến thiết giáo phận bằng cả việc xây dựng những cơ sở vật chất và giáo dục con người.

Với hàng giáo sĩ, Đức cha khích lệ họ sống thánh thiện, xứng danh Alter Christus, theo mẫu gương thánh Gioan Vianey. Đối với các thầy giảng, Đức cha lập chương trình và cơ sở huấn luyện riêng biệt. Ngài cũng tiến hành cải tổ tiểu chủng viện Phúc Nhạc bằng cách sắp xếp lại chương trình học và ban giáo sư, đồng thời lập thêm trường bẩy và đặt cha Louis de Cooman Hành làm bề trên. Cơ sở tiểu chủng viện được xây dựng quy mô và khánh thành vào năm 1930[58]. Đặc biệt, Đức cha lo xây dựng nhà tràng lý đoán Thượng Kiệm để đào tạo linh mục cho địa phận. Chủng viện được khánh thành vào ngày 20-6-1912. Cha Louis de Cooman Hành, đang làm bề trên tiểu chủng viện, được chuyển về Thượng Kiệm làm bề trên[59]. Nhờ những quan tâm đặc biệt này, con số 53 linh mục Việt Nam trong địa phận vào năm 1902 đã tăng thành 137 vào năm 1931[60].  

Với Dòng Mến Thánh Giá, ngoài việc mua đất để lập nhà chính ở Lưu Phương, Đức cha cũng trao phó cho các chị việc in ấn sách vở, may đồ phụng vụ, làm thuốc chữa bệnh, đồng thời chuẩn bị công việc cải tổ dòng theo đúng giáo luật. Từ năm 1916, cha chính Louis de Cooman Hành được đặt làm bề trên Dòng Mến Thánh Giá. Trong nhiệm vụ này, ngài tiến hành việc cải tổ nhà dòng khi biên soạn lại Hiến Pháp với việc tuyên các lời khấn theo giáo luật. Năm 1925, Hiến Pháp mới được thi hành và các chị em đã chính thức tuyên khấn lần đầu tiên[61]. Bên cạnh đó, Đức cha Marcou cũng mời thêm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Đức Bà Truyền Giáo đến làm việc trong địa phận[62].

Đối với giáo dân, Đức cha Marcou Thành lập các hội nhằm khích lệ lòng sùng kính Thánh Thể, yêu mến Thánh Tâm. Đức cha rất quan tâm nâng cao trình độ trí thức và việc săn sóc y tế cho dân chúng nên cho lập các trường tư thục công giáo, trường dạy trẻ câm[63] và các nhà thương ở nhiều nơi trong địa phận[64]. Để nâng cao đời sống vật chất của dân chúng, Đức cha tổ chức đắp đê ngăn mặn ở vùng ven biển[65].

Song song với những công việc trên đây, Đức cha Marcou Thành cũng đẩy mạnh việc truyền giáo. Khi còn là Giám mục phó địa phận Tây Đàng Ngoài, chính Đức cha Marcou đã sai những thừa sai giỏi nhất sang châu Lào. Công việc này vẫn tiếp tục được quan tâm đặc biệt khi Đức cha trở thành Giám mục của địa phận mới. Tại các vùng Ninh Bình và Thanh Hóa, Đức cha rất để tâm đến việc sắp đặt cơ sở và tài sản tại mỗi giáo xứ nhằm thực hiện khẩu hiệu của ngài: “Illuminare qui sedent in tenebris - Soi sáng nhng ai ngi trong bóng ti”. Nhờ những nỗ lực của mọi thành phần, số tín hữu gia tăng nhanh chóng. Từ năm 1902 đến 1931, 22555 người lớn được rửa tội. Số tín hữu trong địa phận từ 80000 vào năm 1902, thành 140000 vào năm 1931. Số nhà thờ từ 325 vào năm 1902 thành 420 vào năm 1931[66].

Trước đó, vào ngày 12-6-1917, cha Louis de Cooman đã được đặt làm Giám mục phó Vùng Đại diện Tông tòa Duyên Hải Đàng Ngoài. Đến tháng 1-1922, địa phận gồm 46 giáo xứ ở các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa, phân bố trong 13 giáo hạt, cùng một số giáo xứ tại châu Lào[67]. Năm 1924, Vùng Đại diện Tông tòa chính thức mang tên Phát Diệm. Trước sức phát triển nhanh chóng của Vùng Đại diện Tông tòa Phát Diệm Đức cha Alexandre Marcou Thành đã xin Tòa Thánh phân chia Phát Diệm thành hai Vùng Đại diện Tông tòa Phát Diệm và Thanh Hóa. Ngày 7-5-1932, Tòa Thánh ra sắc chỉ lập Vùng Đại diện Tông tòa Thanh Hóa và đặt Đức cha Louis de Cooman làm Đại diện Tông tòa của địa phận mới gồm tỉnh Thanh Hóa và châu Lào.

Báo cáo thường niên của Đức cha Alexandre Marcou gửi về Hội Thừa Sai Paris vào năm 1932 cho biết khi tách vùng Thanh Hóa và châu Lào thành địa phận riêng, địa phận Phát Diệm còn lại 99236 tín hữu trên tổng số khoảng 500000 dân, phân bổ trong 40 xứ và chuẩn xứ[68].          

  1. Địa phn Phát Dim được trao cho Giám mc đầu tiên người Vit Nam

Không lâu sau khi thiết lập địa phận Thanh Hóa, ngày 10-1-1933, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, linh mục địa phận Sài Gòn, làm Giám mục phó địa phận Phát Diệm.

Bản thông tin về tình trạng địa phận vào ngày 1-5-1933 cho biết địa phận Phát Diệm gồm hai Đức Giám mục, 89 linh mục, trong đó có 6 thừa sai ngoại quốc, làm việc trong 8 giáo hạt, với 39 giáo xứ (vào thời điểm đó, Phương Thượng đã có một linh mục hiện diện và coi sóc, nhưng vẫn còn là phụ xứ của Phát Diệm)[69].

Ngày 20-10-1935, Đức cha Alexandre Marcou Thành nghỉ hưu, chính thức trao quyền quản trị địa phận Phát Diệm cho Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Từ mùa hè năm 1937, các cha người Việt lần lượt thay thế những vị thừa sai cuối cùng của Hội Thừa Sai Paris: Cha Gioan Phan Đình Phùng thay cha Paul Schlotterbek Tuấn làm giám đốc Đại chủng viện Thượng Kiệm, cha Luca Mai Học Lý thay cha Joseph Rémiac Nhạc làm giám đốc Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, cha Phêrô Lâm thay cha Paul Delmas làm quản hạt Ninh Bình.

 

Đức cha Gioan Baotixita Nguyn Bá Tòng

Về việc điều hành địa phận, Đức cha Gioan Baotixita tiếp tục công trình mà vị tiền nhiệm đã dầy công xây dựng. Đức cha đặc biệt thúc đẩy việc đào tạo linh mục tại Phát Diệm, đồng thời cho nhiều chủng sinh trẻ đi học tại Rôma. Đức cha mời cha Emmanuel Jacques Houssa Sang, thuộc Hội Trợ Tá Truyền Giáo SAM (Société des Auxiliaires des Missionaires), tới dạy Pháp văn tại tiểu chủng viện Phúc Nhạc. Trong khoảng 10 năm làm Giám mục Phát Diệm, Đức cha đã truyền chức cho khoảng 50 tân linh mục[70]. Đức cha lưu tâm đến việc tuyển chọn và đào tạo khởi đầu, nên cho xây dựng trường thử Trì Chính. Song song với việc đó, Đức cha cũng xây dựng nhà nghỉ mát Kim Đài cho hàng giáo sĩ trong địa phận.

Đức cha cũng quan tâm cách đặc biệt đối với đời sống thiêng liêng, đời sống tinh thần cũng như đời sống thể lý của người dân trong địa phận. Về đời sống thiêng liêng, Đức cha đã mời hai dòng chiêm niệm đến Phát Diệm: Dòng kín Cátminh được xây dựng ở Trì Chính và Dòng Xitô được lập tại Châu Sơn, Nho Quan. Đức cha coi hai dòng này như hai cột thu lôi bảo vệ địa phận. Về đời sống tinh thần, Đức cha xây dựng Hội quán Nam Thanh vừa để làm nơi diễn kịch, vừa làm nơi gặp gỡ hội họp, vừa để tổ chức các buổi huấn luyện cho nhiều thành phần khác nhau. Về đời sống thể lý, Đức cha tiếp tục đắp đê mở mang vùng đất tân bồi để có thêm đất đai canh tác.

Thống kê vào năm 1938 cho biết tình hình nhân sự của địa phận Phát Diệm như sau: Số người công giáo là 110744, cùng với 2101 dự tòng, trên tổng số dân khoảng 400000 người; 33 giáo xứ, 9 phụ xứ (có linh mục cư trú), trong 8 giáo hạt; hàng linh mục gồm 111 vị, trong đó có một thừa sai ngoại quốc; 3 nam tu sĩ, 268 nữ tu sĩ, trong đó có 11 nữ tu người châu Âu, 175 thầy giảng; các chủng sinh bao gồm 63 đại chủng sinh và 166 tiểu chủng sinh[71].

Để chuẩn bị cho tương lai địa phận, Đức cha đặt cha Gioan Phan Đình Phùng làm cha chính địa phận, sau đó, xin Tòa Thánh bổ nhiệm cha Gioan làm Giám mục phó Phát Diệm. Việc bổ nhiệm được công bố ngày 2-6-1940 và lễ tấn phong được cử hành tại nhà thờ Phát Diệm ngày 3-12-1940.

Sau l tn phong, 3-12-1940

Ngày 18-12-1943, Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng đi nghỉ hưu tại xứ Xuân Đài, Bùi Chu, trao quyền điều hành địa phận cho Đức cha Gioan Phan Đình Phùng. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau đó, ngày 28-5-1944, Đức cha Gioan Phan Đình Phùng đột ngột qua đời[72].   

Ngày 19-7-1945, cha bề trên đan viện Châu Sơn, Tađêô Lê Hữu Từ được bổ nhiệm làm Giám mục Phát Diệm. Lễ tấn phong Giám mục được tổ chức tại nhà thờ Phát Diệm ngày 29-10-1945. Đây là giai đoạn có nhiều biến động lớn lao trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Đức cha Tađêô đã dùng nhiều cách khác nhau, đặc biệt là qua các thư chung và qua tổ chức tự vệ công giáo, để điều hành giáo phận và bảo vệ các tín hữu trước những mối nguy bạo lực và trước các làn sóng tư tưởng sai lạc. Đức cha cũng lo tổ chức đón tiếp chừng 60000 người tản cư về vùng Phát Diệm từ đầu năm 1947, đồng thời tiếp tục chương trình khai khẩn đất bồi ven biển[73].

Giống như các vị tiền nhiệm Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ rất để tâm đến việc đào tạo linh mục. Đặc biệt, Đức cha cho nhiều linh mục và chủng sinh đi học ở nhiều nơi trên thế giới. Đức cha cũng tiếp tục mời Hội Trợ Tá Truyền Giáo SAM tới giúp địa phận Phát Diệm. Cha Dieudonné Bourguignon Bửu tới dạy tại tiểu chủng viện Phúc Nhạc, còn cha Robert Willichs Lịch tới xây dựng nhà máy phát điện và hệ thống đèn điện chiếu sáng cho toàn vùng Phát Diệm, đồng thời phụ trách việc chữa trị và phẫu thuật tại bệnh viện Phu Vinh. Đức cha cũng lập ra nhà in Lê Bảo Tịnh để in các sách đạo và hướng dẫn mọi thành phần dân Chúa bằng tờ báo Tiếng Kêu.

Những biến chuyển thời cuộc đã buộc Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ di cư vào Nam vào ngày 30-6-1954. Cùng đi với Đức cha còn có khoảng 60000 giáo dân, hơn 120 linh mục và hơn 100 thầy giảng[74], cùng với đông đảo các nữ tu và hầu hết các chủng sinh.

Trước tháng 6-1954, địa phận Phát Diệm gồm 154 linh mục, trong đó có hai vị thuộc Trợ Tá Truyền Giáo SAM; 113 thầy giảng; 29 đại chủng sinh; 146 tiểu chủng sinh; khoảng 200 chú tại trường thử; 200 nữ tu Mến Thánh Giá trong 13 cộng đoàn; 6 nữ tu Dòng Đức Bà Truyền Giáo, trong đó có 3 nữ tu Việt Nam và 3 nữ tu người châu Âu; 65 giáo xứ trong 9 giáo hạt. Dòng Xitô Châu Sơn vốn đã bị phân tán, vì từ năm 1953 một số đan sĩ đã bị bắt đi tù, tới năm 1954 chỉ còn hai vị linh mục trong đan viện là cha Năng và cha Trụ. 

  1. Địa phn Phát Dim sau năm 1954   

Biến cố di cư năm 1954 đã khiến tình trạng nhân tài vật lực trong địa phận Phát Diệm bị suy giảm trầm trọng[75].

Về mặt nhân sự, hầu hết thành phần tinh hoa trong cả hàng giáo sĩ và giáo dân đã rời quê hương Phát Diệm để vào miền Nam. Khi ra đi, Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ trao quyền điều hành địa phận cho cha Luca Mai Học Lý, nhưng đầu năm 1955, cha Luca Lý cũng ra đi, trao quyền lại cho cha tổng đại diện, quen gọi là cha chính hay cha tổng quản, Phaolô Dương Đức Liêm và cha Giuse Hoàng Đình Kim. Số linh mục còn ở lại là 35 vị, đa số già yếu, cùng với 8 thầy giảng và 30 nữ tu Mến Thánh Giá. Số các cộng đoàn Mến Thánh Giá từ 13 giảm xuống chỉ còn 9 cộng đoàn. Cho đến cuối năm 1954, trong số những linh mục còn ở lại, bốn vị đã qua đời, hai vị bị bệnh nặng không thể đảm đương công việc mục vụ. Sang đầu năm 1955, chỉ còn 30 cha ở những nơi sau: Cha tổng quản Phaolô Dương Đức Liêm ở tại Phúc Nhạc; cha phó tổng quản Giuse Hoàng Đình Kim ở tại nhà chung, coi xứ Phát Diệm; cha Mátthêu Đặng Đức Hậu làm phó xứ Phát Diệm; cha Bênađô Phú và cha Kính dưỡng bệnh tại nhà chung; cha Phêrô Trần Cao Vọng coi xứ Cồn Thoi; cha Luca Trần Hùng Sỹ coi xứ Phương Thượng; cha Giuse Trần Đức Lại coi xứ Trì Chính; cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến coi xứ Hướng Đạo; cha Phêrô Tuân coi xứ Tôn Đạo; cha Giacôbê Hiếu coi xứ Dưỡng Điềm; cha Antôn Quế coi Mông Hưu; cha Giuse Huyên ở tại Xuân Hồi; cha Phaolô Đức coi Yên Vân; cha Phanxicô Xaviê Minh coi Bình Hòa; cha Phaolô Bùi Chu Tạo coi Tam Châu; cha Giuse Lê Quý Thanh coi Hiếu Thuận; cha Phêrô Vũ Hiếu Cúc coi Hảo Nho; cha Giuse Vũ Bá Nghiễm coi Yên Thổ; cha Antôn Nguyễn Thế Vịnh coi Quảng Nạp; cha Gioan Trần Văn Giám coi La Vân; cha Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều coi Hoàng Mai; cha Phêrô Phạm Bá Luật coi xứ Sào Lâm; cha Giuse Nguyễn Duy Trinh coi Lãng Vân; cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tường coi Uy Đức; cha Gioan Baotixita Hoàng Quang Tự nghỉ hưu ở Ngọc Cao, Vô Hốt; cha Giuse Vũ Thanh Hòa coi xứ Sơn Lũy; cha Phêrô Dụng coi xứ Trung Đồng; cha Phaolô Nguyễn Chu Trình coi xứ Xích Thổ; các cha Philípphê Năng và Rôbéctô Trụ ở đan viện Châu Sơn.   

Các cha thường phải trải qua những cuộc đấu tố, nhiều cha bị bắt giam. Ngày 29-6-1956, tiểu chủng viện được mở lại ở Thượng Kiệm, nhưng cũng chỉ có thể hoạt động trong một thời gian ngắn ngủi.

Ngày 30-11-1956, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Phaolô Bùi Chu Tạo, đang coi sóc xứ Tam Châu, làm Giám quản địa phận Phát Diệm. Với tư cách là giám quản, cha Phaolô Bùi Chu Tạo cố gắng đi thăm các giáo xứ, chuyến đi thứ nhất, cha giám quản bắt đầu từ Yên Vân, Hào Phú, Ninh Bình, rồi La Vân, Uy Tế, Xích Thổ, Khoan Dụ, các xứ miền Nho Quan và Gia Viễn. Sau đó, chuyến đi thứ hai, cha giám quản thăm Vô Hốt, Đồng Chưa, Sào Lâm, Phúc Lai và bắt đầu gặp những khó khăn trở ngại từ phía chính quyền. Cha giám quản còn cố gắng thăm một số xứ vùng Kim Sơn và Yên Mô, sau đó không còn có thể đi thăm các xứ đạo. Từ đầu năm 1957, một số cha thuyên chuyển như sau: Cha giám quản Phaolô Bùi Chu Tạo về ở nhà chung Phát Diệm; hai cha Giuse Nguyễn Duy Trinh và Giuse Lê Quý Thanh coi sóc tiểu chủng viện Thượng Kiệm; cha Phêrô Vũ Hiếu Cúc coi xứ Bình Sa; cha Phaolô Đức coi xứ Văn Hải; cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tường coi xứ Yên Vân; cha Giuse Vũ Bá Nghiễm coi xứ Bạch Liên; cha Antôn Nguyễn Hữu Vịnh coi xứ Ninh Bình; cha Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều coi xứ Yên Thổ; cha Mátthêu Đặng Đức Hậu ở Tam Châu.

Ngày 24-1-1959, Tòa Thánh bổ nhiệm cha giám quản Phaolô Bùi Chu Tạo làm Giám mục Phát Diệm, hiệu tòa Numidia. Sau dịp Tuần Thánh năm 1959, Đức Giám mục tân cử lâm bệnh phải đi điều trị tại Bạch Mai. Nhân dịp này, ngài được Đức cha Giuse Trịnh Như Khuê tấn phong Giám mục tại nhà thờ lớn Hà Nội ngày 26-4-1959.

L tn phong Đức cha Phaolô Bùi Chu To

Giữa tháng 6-1959, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo trở về Phát Diệm. Ngày 7-9-1959, Đức tân Giám mục đặt cha Giuse Lê Quý Thanh làm cha chính địa phận. Trung tuần tháng 11 năm đó, Đức tân Giám mục tổ chức tĩnh tâm cho các cha trong địa phận. Các cha có thể về dự tương đối đông đủ.

K tĩnh tâm linh mc năm 1959

Hàng đầu, t trái: Các cha Hiếu, Kim, Phú, Liêm, Đức cha To, Hòa, Dng, Tuân, Đức

Hàng 2: Trinh, Cúc, Tr, Khuyến, Gioan B. Hu, Minh, Nghim

Hàng 3: Huyên, Quế, Thanh, Lut, Vnh, S

Hàng 4: Trình, Thiu, Giám, Mátthêu Hu, Tường

Từ tháng 3-1960, cha Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều bị án quản chế tại Quảng Phúc. Năm 1961, Đức cha truyền chức linh mục cho hai thầy Giuse Trần Bá Vinh và Phaolô Phạm Văn Ven. Tháng 8-1963, cha Giuse Vũ Bá Nghiễm được chuyển đi coi xứ Cồn Thoi, cha Phêrô Trần Cao Vọng không thể tới Bạch Bát, Quảng Nạp và bị giam lỏng ở Thiện Dưỡng. Ngày 13-2-1964, cũng là ngày mồng một tết năm Giáp Thìn, cha Giuse Lê Quý Thanh được tấn phong làm Giám mục phó. Trong thời buổi khó khăn, thiếu thốn, hai Đức cha phải tự làm mọi việc, từ chăm sóc mục vụ cho giáo dân Phát Diệm cho đến những nhu cầu cá nhân căn bản. Thêm vào đó, ngày 15-8-1972, khu vực nhà chung và nhà thờ chính tòa bị trúng bom. Dù rất khó khăn, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo vẫn quyết định trùng tu nhà thờ. Công việc hoàn tất vào ngày 25-12-1973. Ngày 7-5-1974, Đức cha Giuse Lê Quý Thanh qua đời. Sau đó, cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến được bổ nhiệm làm cha chính địa phận. Sau rất nhiều lần từ chối, ngày 24-7-1977, cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến được tấn phong Giám mục, đồng thời làm cha xứ Phát Diệm và kiêm nhiệm các xứ từ Yên Bình đến Tôn Đạo.

Về Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm, năm 1957, cha giám quản Phaolô Bùi Chu Tạo trao cho bà giáo Anê Nguyễn Thị Toàn công việc chiêu sinh và cùng với cha Giuse Hoàng Đình Kim đào tạo 46 chị em trẻ. Trong những năm 1961-1963, 32 trong số các chị em này đã khấn tạm. Nhưng năm 1966, vì lý do chiến tranh, chính quyền đã cho 12 chị em về gia đình. Trận bom ngày 11-3-1968 đã phá hủy hầu như tất cả các sơ sở của nhà Lưu Phương, 5 chị em thiệt mạng trong trận bom này, trong đó có Mẹ Anê Nguyễn Thị Toàn. Tất cả những chị em còn lại buộc phải trở về gia đình. Từ năm 1973, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo làm đơn và được chấp thuận để các chị em trở lại nhà dòng, bắt đầu tiến trình hồi sinh.

Đối với giáo dân, vì không thể đi thăm các giáo xứ, việc bầu lại các ban chấp hành giáo xứ giáo họ cũng không dễ dàng, hơn nữa, một số người hoạt động tích cực trong các giáo xứ còn bị sách nhiễu, thậm chí bỏ tù, Đức cha Phaolô đã âm thầm xây dựng và đào tạo các gia trưởng, đồng thời dùng các thư chung để hướng dẫn mọi thành phần trong địa phận.

Ngày 22-3-1980, một sự kiện hết sức đặc biệt, sau nhiều năm, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo long trọng phong chức linh mục cho hai thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Đức Quỳnh và Phêrô Nguyễn Hồng Phúc.  

Sau hơn ba năm làm việc, Đức cha phó Giuse Nguyễn Thiện Khuyến qua đời đột ngột vào ngày 15-12-1981. Năm 1982, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo còn truyền chức linh mục cho thầy Antôn Đoàn Minh Hải vào ngày 6-2, và thầy Antôn Phạm Hoàng Lãm vào ngày 15-5. Trong những năm khó khăn tột cùng của địa phận, từ 1981 đến 1989, Đức cha cũng đã âm thầm truyền chức linh mục cho 13 thầy vốn đã theo đuổi ơn gọi linh mục từ nhiều năm, từng chịu cảnh khó khăn tù đày.

Cho đến cuối thập niên 1980, số linh mục chính thức làm việc trong toàn địa phận chỉ còn 10 vị, gồm Đức ông Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều, các cha Phaolô Nguyễn Chu Trình, Phaolô Phạm Văn Ven, Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tường, Phêrô Trần Cao Vọng, Luca Trần Hùng Sỹ, Phanxicô Xaviê Nguyễn Đức Quỳnh, Phêrô Nguyễn Hồng Phúc, Antôn Đoàn Minh Hải, và Antôn Phạm Hoàng Lãm. Các linh mục chịu chức âm thầm vẫn chỉ có thể âm thầm làm việc trong phạm vi hết sức hạn hẹp.

  1. Thi k hi sinh, t năm 1988

Từ cuối những năm 1980, đời sống xã hội cũng như các sinh hoạt tôn giáo từng bước trở nên sáng sủa hơn. Sau lễ tuyên thánh 117 vị tử đạo tại Việt Nam, Hội Thánh tại miền Bắc nói chung và tại địa phận Phát Diệm nói riêng bắt đầu có những dấu chỉ hồi sinh.

Về nhân sự, sau rất nhiều năm chờ đợi, ngày 14-11-1988, Tòa Thánh bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Văn Yến, cha xứ Gia Trạng, thuộc địa phận Hà Nội, làm Giám mục phó Phát Diệm với quyền kế vị. Ngày 6-12-1988, Đức Giám mục tân cử về Phát Diệm và ngày 16-12-1988, lễ tấn phong diễn ra trong khuôn viên nhà thờ chính tòa Phát Diệm. Cũng vào dịp này, các cha chịu chức âm thầm được công bố: Giuse Vũ Quang Điện, Giuse Trần Ngọc Văn, Inhaxiô Bùi Ngọc Hoàng, Phêrô Trần Văn Vũ, Giuse Phạm Đức Tấn, Giuse Vũ Công Hoàng, Gioan Baotixita Đinh Công Dũng, Phaolô Trần Lưu Huynh, Giuse Mai Văn Thiện, Giuse Phạm Ngọc Khuê, Antôn Phan Văn Tự, Giuse Trần Văn Khoa.

Hai Đức cha tiếp tục đẩy mạnh việc xây sửa cơ sở vật chất nơi các giáo xứ, nhất là nhà thờ và nhà dạy giáo lý. Song song với việc củng cố và phát triển đời sống đức tin nơi các thành phần dân Chúa như Hội Gia trưởng, Mân Côi,…việc đào tạo nhân sự được chú trọng đặc biệt. Khi chủng viện Hà Nội chưa được mở lại, hoặc còn bị nhiều hạn chế, hai Đức cha đã âm thầm gửi một số chủng sinh đi học chương trình chủng viện tại Sài Gòn, do các cha gốc Phát Diệm tại miền Nam đảm nhận.

Ngày 19-5-1989, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo vào miền Nam để chuẩn bị đi Rôma, thủ tục không thành, nên mãi đến cuối tháng 7-1989, Đức cha mới trở lại Phát Diệm. Trong thời gian Đức cha đi vắng, ngày 3-7, Đức Hồng Y Roger Etchegaray tới thăm Phát Diệm. Đây là một biến cố rất đặc biệt đối với mọi thành phần dân Chúa trong giáo phận.

Đức Hng Y Etchegaray thăm Phát Dim năm 1989

Năm 1989, 8 chủng sinh của địa phận Phát Diệm được chính thức gửi đi học ở đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội. Bên cạnh đó, Đức cha phó Giuse Nguyễn Văn Yến cũng lo lắng tìm nhiều cách thức khác nhau để đào tạo các tu sinh trẻ, nam cũng như nữ, hình thành đội ngũ đông đảo các giáo lý viên, canh tân việc học và dạy giáo lý trong địa phận. Kể từ năm 1994, việc gửi chủng sinh đi học ở Hà Nội được đều đặn hơn, hai năm một khóa mới.

Các cơ sở vật chất như nhà thờ, nhà xứ tiếp tục được sửa chữa, xây mới. Cũng trong những năm này, Tòa Giám mục Phát Diệm đã tiến hành trùng tu các nhà thờ cạnh trong khuôn viên nhà thờ Phát Diệm để chuẩn bị cho năm thánh mừng 100 năm nhà thờ Phát Diệm vào năm 1991. Trong dịp đặc biệt này, rất nhiều đoàn hành hương từ khắp nơi trong nước cũng như ngoài nước nô nức đi hành hương tại Phát Diệm.

Cũng từ năm 1991, những chị em thuộc Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm đã khấn tạm trong những năm 1961-1963 đã dần dần được tuyên khấn trọn đời. 22 chị em khấn trọn đời trong những năm này chính là những nhân tố nền tảng cho công cuộc hồi sinh của Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm.

Đầu năm 1994, các cha đã chịu chức âm thầm lần lượt đi coi xứ. Giữa năm 1995, lớp chủng sinh Phát Diệm gửi đi Hà Nội mãn trường. Hai thầy Phêrô Vũ Đại Đồng và Phêrô Trần Văn Hòa chịu chức linh mục vào ngày 7-10-1995. Năm sau, ngày 13-5-1996, các thầy còn lại gồm Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Hoàng, Antôn Nguyễn Tâm Tư, Phaolô Đinh Công Hanh, Gioan Baotixita Bùi Văn Kế, và Vinhsơn Nguyễn Văn Phương được chịu chức linh mục.

Như vậy, đến thời điểm này, con số linh mục trong địa phận Phát Diệm là 29 vị, xấp xỉ với con số vào đầu năm 1955. Tới tháng 12-1996, các linh mục trong địa phận được phân bổ như sau:

 

Số thứ tự

Tên thánh tên gọi

Nơi coi sóc

1

2

3

 

4

 

5

6

 

7

8

 

9

 

 

10

 

11

12

 

13

 

14

15

16

17

 

18

19

20

21

22

23

24

25

26

 

27

28

29

Đức ông Phaolô Nguyễn Quang Thiều

Phaolô Nguyễn Chu Trình

Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tường

 

Luca Trần Hùng Sỹ

 

Phêrô Trần Cao Vọng

Phêrô Nguyễn Hồng Phúc

 

Phanxicô Xaviê Nguyễn Đức Quỳnh

Giuse Vũ Quang Điện

 

Antôn Đoàn Minh Hải

 

 

Antôn Phạm Hoàng Lãm

 

Giuse Trần Ngọc Văn

Inhaxiô Bùi Ngọc Hoàng

 

Phêrô Trần Văn Vũ

 

Giuse Phạm Đức Tấn

Giuse Vũ Công Hoàng

Gioan Baotixita Đinh Công Dũng

Phaolô Trần Lưu Huynh

 

Giuse Mai Văn Thiện

Giuse Phạm Ngọc Khuê

Antôn Phan Văn Tự

Giuse Trần Văn Khoa

Giuse Lê Đức Năng

Phêrô Trần Văn Hòa

Phêrô Vũ Đại Đồng

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Hoàng

Antôn Nguyễn Tâm Tư

 

Gioan Baotixita Bùi Văn Kế

Vinhsơn Nguyễn Văn Phương

Phaolô Đinh Công Hanh

Quảng Phúc

Xích Thổ kiêm Khoan Dụ

Yên Vân kiêm Yên Liêu, Phú Thuận, Hào Phú

Dưỡng Điềm kiêm nhiệm một số xứ lân cận

Trung Đồng

Hoàng Mai kiêm Thiện Dưỡng, Ninh Bình

An dưỡng viện Phát Diệm

Tân Khẩn kiêm Tân Mỹ, Như Tân

Phúc Nhạc kiêm Nam Biên, Gia Lạc, Tam Châu, Bình Hòa

Như Sơn kiêm nhiệm một số xứ lân cận

Cồn Thoi kiêm Tùng Thiện

Lãng Vân kiêm Mưỡu Giáp, Uy Đức, Uy Tế

Bạch Liên kiêm Yên Thổ, Quảng Nạp, Bình Hải

Hiếu Thuận, Phúc Hải

Văn Hải kiêm Hóa Lộc

An Ngải kiêm Phúc Lai

Tôn Đạo kiêm Dục Đức, Khiết Kỷ, Thuần Hậu

Vô Hốt kiêm Sơn Lũy

Du học Paris

Quản lý

Sào Lâm kiêm Mỹ Châu

Phó Yên Vân

Đại chủng viện Hà Nội

Phát Diệm kiêm Yên Bình

Đồng Chưa

Bình Sa kiêm Hoài Lai, Hảo Nho

Hòa Lạc kiêm Hướng Đạo, Ứng Luật, Phú Hậu

Áng Sơn kiêm La Vân

Phó Xích Thổ

 

Ngày 15-7-1998, Tòa Thánh chấp nhận đơn xin nghỉ hưu của Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo, Đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến chính thức đảm nhận việc điều hành địa phận Phát Diệm.

Để chuẩn bị mừng 100 năm thành lập giáo phận, từ năm 1994, Tòa Giám Mục Phát Diệm đã tiến hành khảo sát và trùng tu một cách qui mô phương đình và nhà thờ lớn. Công trình trùng tu phương đình được hoàn tất vào ngày 23-7-1999. Xét về cả nhân tài vật lực, việc trùng tu nhà thờ lớn là công trình lớn lao và rất nhiều nỗ lực. Ngày 8-9-2000, công việc tháo dỡ bắt đầu. Tất cả các phần bằng gỗ và đá được xem xét kĩ lưỡng để thay thế những phần hư hỏng, bảo tồn những phần khác, đặc biệt sao chép trung thành những chi tiết điêu khắc bằng đá và gỗ đã hư hoại không thể phục hồi. Đến cuối tháng 5-2001, công trình trùng tu được hoàn tất.

Chính vào thời điểm việc trùng tu nhà thờ Phát Diệm gần hoàn tất, ngày 5-5-2001, Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo qua đời. Lễ an táng được cử hành trong ngôi nhà thờ Chính tòa vẫn chưa được trùng tu xong.

Ngày 29-11-2005, tại nhà thờ Chính tòa Hà Nội, Đức Hồng y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, đã truyền chức linh mục cho 57 phó tế, trong đó có 9 phó tế Phát Diệm. Rồi cứ đều đặn hai năm (tới năm 2014) giáo phận có chủng sinh mãn trường và chịu chức. Kể từ năm 2005, việc tuyển chọn chủng sinh đi chủng viện được thực hiện đều đặn hằng năm. Số linh mục trong địa phận gia tăng nhanh chóng.

K tĩnh tâm linh mc năm 2004

Ngày 14-4-2007, Tòa Thánh chấp nhận đơn xin từ chức của Đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến, đồng thời đặt Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt và sau đó là Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục Thanh Hóa, làm Giám quản giáo phận Phát Diệm.

Ngày 3-7-2007, Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục Thanh Hóa, về nhận giáo phận Phát Diệm trong vai trò Giám quản Tông tòa. Đồng thời, Đức cha Giám quản đặt cha Giuse Phạm Ngọc Khuê làm Đại diện và cha Giuse Trần Ngọc Văn làm Phó Đại diện. Suốt trong 2 năm (2007-2009), Đức cha Giám quản đã tận tụy với Phát Diệm. Ngài luôn hiện diện với Phát Diệm trong mọi sự kiện, dù đường từ Thanh Hóa tới Phát Diệm không mấy thuận tiện. Tháng 5-2008, lần đầu tiên ngài tổ chức họp mặt anh chị em khối di dân miền Nam: Phát Diệm và Thanh Hóa. Sự kiện diễn ra tại nhà thờ Phát Diệm-Phú Nhuận-Sài Gòn. Cũng năm này, giáo phận nhận lại Trường thử Trì Chính sau hơn 50 năm, để tái lập lại Tiểu Chủng viện thánh Phaolô và Trung tâm mục vụ.

Ngày 25-7-2009, cha Giuse Nguyễn Năng, lúc đó là Giám đốc đại chủng viện Xuân Lộc, được bổ nhiệm làm Giám mục Phát Diệm. Hai hôm sau, 27-7-2009, phái đoàn Phát Diệm do Đức cha Giám quản, đại diện quí cha gốc Phát Diệm tại miền Nam, quí cha đại diện linh mục đoàn Phát Diệm, đã tới Xuân Lộc chào mừng Đức tân Giám mục Phát Diệm.

Phái đoàn Phát Dim chào thăm Đức Giám mc tân c ti Xuân Lc

Ngày 10-8-2009, Đức tân Giám mục về thăm giáo phận. Giáo phận đón Đức tân Giám mục, chủ chăn của mình, chính thức ngày 24-8-2009: khởi đầu từ Tòa Giám mục Thanh Hóa, dừng chân tại nhà thờ Ninh Bình, Phúc Nhạc, và sau cùng là nhà thờ Chính tòa Phát Diệm.

Đúng 9g00 ngày 8-9-2009, tại quản trường nhà thờ Chính tòa (sân khấu được dựng trên ao hồ), thánh lễ phong chức Giám mục đã diễn ra long trọng. Chủ phong là Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Xuân Lộc; phụ phong là hai Đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến, nguyên Giám mục Phát Diệm và Giuse Nguyễn Chí Linh, nguyên Giám quản Phát Diệm.

Tiếp nối các chương trình của Đức Cha Giám quản, Đức Cha Giuse đẩy mạnh việc phổ biến và sống Lời Chúa. Đây là nền tảng vững chắc và cần thiết nhất cho căn nhà đức tin dân Chúa trong giáo phận. Ngài thâm tín điều này. Chỉ trong vài năm (2009-2012), gần 50 bộ sách do ngài soạn thảo Cu Nguyn Vi Phúc Âm Hng Ngày, đã được phổ biến tới từng nhà thờ, gia đình trong giáo phận. Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể được hình thành và phát triển mạnh. Tổ chức lại hai giới Gia trưởng và Hiền mẫu. Từ năm 2012, ngoài chủng viện Hà Nội, chủng viện Xuân Lộc cũng đón nhận chủng sinh Phát Diệm theo lời đề nghị của Đức Cha.

Nhiều nhà thờ xứ, họ tiếp tục được tu bổ và xây mới: Lạc Bình, Lãng Vân, Tam Điệp, Tiểu Chủng viện Phát Diệm (2011); Trung tâm Hành hương (2013); Nhà Tĩnh dưỡng LM (2016); Tòa Giám mục (2018).

Ngày 19-10-2019, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục giáo phận Sài Gòn, Giám quản Phát Diệm.

Đức Tổng Giám mục Giuse đã đặt cha Antôn Phan Văn Tự làm Đại diện, cha Phêrô Nguyễn Văn Hiện làm Phó Đại diện. Từ đầu năm 2020 đến 2022, dịch Covid-19 xảy đến. Đức Tổng đã hết mình lo đời sống đức tin cho hai giáo phận vững vàng vượt qua những thời khắc đầy khó khăn của đại dịch.

Ngày 25-3-2023, cha Phêrô Kiều Công Tùng, lúc đó là Chưởng ấn Tòa Tổng giám mục Sài Gòn, được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm làm Giám mục Phát Diệm. Ngày 29-3-2023, phái đoàn đại diện Giáo phận đã tới chào thăm Đức Tổng Giuse, nguyên Giám quản Phát Diệm, và Đức Cha tân cử Phêrô.

Đoàn Phát Dim chào thăm Đức Cha mi

ti Tòa Tng Giám mc Sài Gòn, 29-3-2023

Chiều 4-5-2023, đại diện giáo phận đón Đức Cha tân cử tại sân bay Nội Bài.

Cuộc đón rước chính thức long trọng vào sáng hôm sau, 05-5-2023, với chặng đầu tiên từ Đền thánh Phúc Nhạc. Theo trục đường 10, đoàn rước tiến về nhà thờ Chính tòa giữa bầu khí hoan hỉ của các tín hữu thuộc giáo xứ hai bên đường 10.

Thánh lễ phong chức Giám mục diễn ra tại quảng trường Chính tòa sáng ngày 16-5-2023: Đức Tổng Giám mục Giuse, Tổng Giám mục Sài Gòn, nguyên  Giám mục-Giám quản Phát Diệm, chủ phong; phụ phong là hai Đức Cha: Louis Nguyễn Anh Tuấn, Giám mục Hà Tĩnh, Phêrô Huỳnh Văn Hai, Giám mục Vĩnh Long.

Với lễ tấn phong của Đức cha Phêrô, Giám mục hiện tại của giáo phận Phát Diệm, chúng tôi xin tạm khép lại phần trình bày về lịch sử giáo phận. Khoảng thời gian 125 năm chưa phải là khoảng thời gian thật dài với lịch sử của một giáo phận, nhưng cũng đủ để mỗi con dân của Phát Diệm nhận ra rằng từ khi hạt giống Tin Mừng được gieo xuống mảnh đất thân thương này, mỗi bước thăng trầm của giáo phận đều mang dấu ấn sâu đậm của hồng ân và tình yêu Thiên Chúa. Điều đó giúp mỗi người và cả giáo phận luôn vững tin hướng tới tương lai, vì bàn tay nhân từ của Thiên Chúa vẫn ân cần hướng dẫn, để cùng với toàn thể Hội Thánh và nhân loại, những trang sử mới của giáo phận sẽ tiếp tục là những trang thấm đẫm tình người và tình Chúa nơi quê hương thân yêu này.

 

Lm. Vinhsơn Trần Minh Thực, PSS

Cùng Ban Biên soạn

(Trích Kỷ Yếu Giáo phận Phát Diệm 2026)


[1] Vùng Đại diện Tông tòa mới này thường được gọi là địa phn Thanh, vì hai vùng chính yếu của địa phận mới này từng là Thanh Hoa nội (tức tỉnh Thanh Hóa ngày nay) và Thanh Hoa ngoại (tức tỉnh Ninh Bình ngày nay). Thay vì cách gọi chính thức Vùng Đại din Tông tòa, đôi khi chúng tôi xin dùng cách gọi vắn tắt là địa phn hoặc giáo phn. Cần biết rằng các bản văn tiếng Pháp giai đoạn từ thế kỉ 17-19 thường dùng những cách gọi khác nhau như Tunquin, Tong-King, Tonkin để nói về vùng đất từ sông Gianh trở ra Bắc, tức Vương Quốc Đàng Ngoài cho tới cuối thế kỉ 18. Tên gọi này thường được dịch ra tiếng Việt là Đàng Ngoài hoặc Bc K. Về mặt hành chính, từ khi người Pháp đặt quyền bảo hộ (protectorat), Tonkin cũng được dùng để chỉ vùng đất từ Ninh Bình trở ra Bắc. Tuy nhiên, trong các văn bản của Hội Thánh công giáo cho tới năm 1924, Tonkin vẫn tiếp tục được dùng để chỉ vùng đất từ sông Gianh trở ra Bắc. Do vậy, chúng tôi tạm thống nhất dùng từ Đàng Ngoài để dịch từ Tonkin.

[2] X. Gendreau Đông, Sách thut li các thư chung địa phn Tây Đàng Ngoài, Kẻ Sở 1908, tr. 16-22.

[3] X. Romanet du Caillaud, Essai sur les origines christianisme au Tonkin et dans les autres pays annamites, Paris 1915, tr. 1-88; Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hi Đại Vit 1615-1773, Hà Nội 2008, 113.   

[4] X. Đỗ Quang Chính, sđd, tr. 115-124.

[5] X. A. de Rhodes, Lch s vương quc Đàng Ngoài (bản dịch của Hồng Nhuệ), Tp. Hồ Chí Minh 1994, tr 92-94. Văn khố MEP, volume 680, tr. 100-101 có một bản tuyên thệ vào năm 1683, với chữ ký bằng chữ Nôm, có ghi kèm tiếng Latinh, của 10 linh mục Đàng Ngoài, trong đó có chi tiết như sau: “Tôi là Gia-cô-bê Chiêu Sa-thê-do-tê Pa-rô-cơ Vạn Nỗ chính tay tôi viết”, phần tiếng Latinh ghi như sau: “Ego Jacobus Chieu Sacerdos Parochus vặn nổ propria manu”, nghĩa là Tôi là Giacôbê Chiêu, linh mc cha x Vn N chính tay tôi viết. Chúng tôi cho rằng xứ Vạn Nỗ (澫弩) ở đây có lẽ là Van-no trong bản văn của cha Đắc Lộ.

[6] X. A. de Rhodes, sđd, tr. 89-106.

[7] X. A. de Rhodes, sđd, tr. 164-165; Hành trình và truyn giáo, (bản dịch của Hồng Nhuệ), tp. Hồ Chí Minh 1994, tr. 120.

[8] X. A. de Rhodes, Lch s vương quc, tr. 131.

[9] X. Khuyết danh, Relation des missions des evesques françois aux Royaumes de Siam, de la Cochinchine, de Camboye, & du Tonkin, & c., (Paris 1674), tr. 195 ; Vương Đình Chữ, Lch s giáo phn Vinh. I. Reichstett 2015, tr69-70.

[10] X. Khuyết danh, Relation des missions, tr. 171-173.

[11] X. Đỗ Quang Chính, Dòng Tên, tr. 302-303.

[12] X. Khuyết danh, Relation des missions, tr. 277-279.

[13] X. A. Launay, Histoire de la mission du Tonkin. Documents Historiques. I. 1658-1717. Paris 1927, tr. 89. Bản văn tiếng Pháp không ghi dấu thanh vào các tên riêng, ở đây, chúng tôi tạm thời ghi thêm các dấu thanh vào tên gọi, dựa theo một số tài liệu.

[14] X. Nguyen Huu Trong, Les origines du clergé vietnamien, Saigon 1959, 164-165.

[15] X. A. Launay, Histoire de la mission, tr. 92-100.

[16] Đối với những địa danh chưa xác định được chính xác, chúng tôi giữ nguyên theo bản văn chúng tôi tham khảo.

[17] Như phần trên chúng tôi đã ghi nhận, xứ Van-no hẳn là Vạn Nổ, nhưng chúng tôi tạm chưa xác định được địa danh này hiện nay nơi nào trong giáo phận Thanh Hóa.

[18] X. A. de Rhodes, Histoire du Royaume de Tunquin, Lyon 1651, 225-227.

[19] Theo thiển ý của chúng tôi, cách gọi x để chỉ xứ đạo bắt đầu từ công nghị Phố Hiến, vì mỗi linh mục được trao coi sóc một trấn, ngôn ngữ bình dân gọi là xứ, như xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Đoài. Che bo chính là Kẻ Vó, nay là xứ Hoàng Mai, cũng là ý kiến của cha chính Poncet Thảo trong C. A. Poncet, “Le voyage du P. Alexandre de Rhodes de Cua-bang à Hanoi en 1627”, BAVH 1942, số 3, 261-284.

[20] X. Khuyết danh, Relation des missions, tr. 302; A. Launay, Histoire de la mission, tr. 101-105; A. Launay, Mémorial de la Société des Missions-Etrangères 1658-1913, Paris 1916, tr. 81 và 203.

101-105.

[21] X. A. Launay, Histoire de la mission, tr. 222.

[22] X. A. Forest, Les missionnaires français au Tonkin et au Siam. II. Langres 1998, tr. 157.

[23] X. A. Launay, Mémorial, tr. 404.

[24] X. A. Launay, Mémorial, tr. 451.

[25] X. A. Launay, Mémorial, tr. 81-82.

[26] X. A. Launay, Histoire de la mission, tr. 406-407; A. Marillier, Nos pères dans la foi. III. Notes sur le clergé du Tonkin de 1666 à 1765 (Paris 1995), tr. 54.

[27] X. Đỗ Quang Chính, Dòng Tên, tr. 391.

[28] X. A. Launay, Histoire de la mission, tr. 441.

[29] X. A. Launay, Mémorial, tr. 82-83.

[30] X. A. Launay, Mémorial, tr. 305.

[31] X. A. Marillier, Nos pères dans la foi. III., tr. 82.

[32] X. A. Launay, Mémorial, tr. 471-472.

[33] X. L. Néez, Documents sur le clergé tonkinois, (Paris 1925), tr. 271-273.

[34] X. A. Marillier, Nos pères, 179.

[35] X. A. Launay, Mémorial, tr. 553-554.

[36] X. Nouvelles lettres édifiantes de la Chine et des Indes orientales. VI. Paris 1821, tr. 242-243.

[37] X. A. Launay, Mémorial, tr. 407-408.

[38] X. Annales de la Propagation de la Foi (APF). Tome VII. N° 36.  (Lyon 1834), tr. 76; N° 39.  (Lyon 1835), tr. 496; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thc lc. Tập ba (bản dịch của Viện sử học). Hà Nội 2007, tr. 415-416.

[39] Ba vị bị xử chém tại Ninh Bình ngày 28-4-1840.

[40] X. APF. đd, tr. 509-510.

[41] APF. Tome XII. N° 71.  (Lyon 1840), tr. 332.

[42] Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nht thng chí (bản dịch của viện sử học). Tập 2, tr. 261, Năm Thiệu Trị thứ nhất, tên gọi Thanh Hoa được đổi thành Thanh Hóa.

[43] A. Launay, Le Tonkin catholique, tr. 266.

[44] A. Launay, Le Tonkin catholique, tr. 265-266.

[45] X. Sách thut li các thư chung địa phn Tây Đàng Ngoài (Kẻ Sở, 1908), tr. 18-19.

[46] X. APF. Tome XXXVI. N° 215. (Lyon 1864), tr. 264-275.

[47] Từ năm 1862 Đức cha Theurel Đông cải tên thành Chiêu.

[48] X. Thư chung V các đấng tđạo của Đức cha Phêrô Maria Đông ngày 30-11-1927.

[49] X. APF. Tome XXXVI. N° 217. (Lyon 1864), tr. 482-483.

[50] X. A. Launay, Mémorial, tr. 533.

[51] X. A. Launay, Mémorial, tr. 533-534.

[52] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s Đức cha Thành (Alexandre Marcou), Sàigòn 1967, tr. 14.

[53] X. APF. Tome XXXX. N° 239. (Lyon 1868), tr. 330.

[54] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr.19-21.

[55] X. Gendreau Đông, Sách thut li các thư chung địa phn Tây Đàng Ngoài, Kẻ Sở 1908, tr. 18-19. Trong bản thống kê này các xứ ở châu Lào không được nhắc đến.

[56] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr. 21.

[57] X. X. A. Launay, Mémorial, tr. 620.

[58] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr. 28.

[59] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr. 34-35.

[60] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s giáo phn Phát Dim (1901-2001), Phát Diệm 2021,  tr. 157.

[61] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 99-100.

[62] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 159.

[63] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr. 36-45. 

[64] X. P. Mai Đức Thạc, Tiu s, tr. 30-32. 

[65] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 160.

[66] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 155-157.

[67] X. A. Marcou, Thư chung địa phn Thanh. III. N° 5 riêng các thày cả.

[68] Trang điện tử https://irfa.paris/ancienne_publication/rapport-annuel-1932/phatdiem/, tra cứu ngày 31-5-2025. Tài liệu viết tay của linh mục Luca Trần Hùng Sỹ cho biết địa phận Thanh trước khi phân chia vào năm 1932 gồm 56 giáo xứ. Sau khi phân chia, địa phận Phát Diệm gồm 38 giáo xứ, địa phận Thanh Hóa gồm 18 giáo xứ.

[69] X. A. Marcou, Thư chung địa phn Thanh. III. “Status Vicariatus Apostolici Phat Diêm”.

[70] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 182.

[71] X. MEP, Les missions catholiques en Indochine 1939, Hongkong 1940, tr. 129-130.

[72] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 188-190.

[73] X. V. Trần Ngọc Thụ, Lch s,  tr. 197.

[74] Chúng tôi ghi theo tài liệu viết tay của Đức ông Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều. Chúng tôi ghi nhận rằng những số liệu về các địa phận miền Bắc di cư trong bài của Peter Hansen, “Bac Di Cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and their Role in the Southern Republic, 1954-1959”, Journal of Vietnamese Studies, Vol. 4, No. 3, (2009), tr. 173-211 đã lấy theo số liệu của Việt-Nam Công-giáo, Niên giám 1964, tr. 180-205, chứ không phải số liệu vào năm 1954.

[75] Những thông tin dưới đây chúng tôi ghi lại theo tài liệu viết tay của Đức ông Phaolô Tịnh Nguyễn Quang Thiều.

 

CÁC TIN KHÁC
Giới thiệu tập thơ: “Ánh Sáng và Tình Yêu” – Tác giả: Jac. Tiều Phu (Phêrô Phạm Văn Thân)
Giới thiệu tập thơ: “Ánh Sáng và Tình Yêu” – Tác giả: Jac. Tiều Phu (Phêrô Phạm Văn Thân)
'Ánh Sáng và Tình Yêu’ – một tập thơ đượm chất Đạo, giàu tâm tình cầu nguyện và thấm nhuần Đức Tin Công giáo, được viết nên bởi người con Giáo phận Hải Phòng – tác giả Phêrô Phạm Văn Thân (bút danh Jac. Tiều Phu).” Tiếp nối thành công từ tập thơ “Muộn Mằn” với những khúc thơ tĩnh lặng, sâu lắng về tình Chúa thương xót – như:“Chúa chẳng vô tình hoá hạt bụi… Hướng về Ngài vẫn hoa ân ban”, tác giả tiếp tục dẫn dắt người đọc qua hơn 200 bài thơ khác trong “Ánh Sáng và Tình Yêu” – từ kinh nghiệm Kinh Thánh đến phụng vụ, từ giáo lý đến đời sống đức tin mỗi ngày. Mỗi vần thơ như một lời chiêm niệm chân thành, lặng lẽ tỏa sáng ánh sáng Tin Mừng giữa đời thường tất bật. Ban Biên tập trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.
Chi tiết >>
Trường ca: Gương phúc tử đạo của Thánh nữ Anê Lê Thị Thành
Trường ca: Gương phúc tử đạo của Thánh nữ Anê Lê Thị Thành
WGPHH (30/11/2024) - Tác phẩm đạt giải nhất cuộc thi Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới 2024.
Chi tiết >>
Đôi nét về tác phẩm "Hy vọng" - Tự truyện đầu tiên của một vị Giáo Hoàng trong lịch sử
Đôi nét về tác phẩm "Hy vọng" - Tự truyện đầu tiên của một vị Giáo Hoàng trong lịch sử
Đôi nét về tác phẩm "Hy vọng" - Tự truyện đầu tiên của một vị Giáo Hoàng trong lịch sử
Chi tiết >>
Đức cha Retord Liêu, vị Giám mục của Thánh giá - Tác giả: Đức nguyên TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt
Đức cha Retord Liêu, vị Giám mục của Thánh giá - Tác giả: Đức nguyên TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt
Đức cha Retord Liêu, vị Giám mục của Thánh giá - Tác giả: Đức nguyên TGM Giu-se Ngô Quang Kiệt
Chi tiết >>
Đối chiếu Kinh Cầu Đức Bà qua hai bản dịch ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm trong sách(Bản Kinh Tụng Đọc Toàn Niên) 1865
Đối chiếu Kinh Cầu Đức Bà qua hai bản dịch ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm trong sách(Bản Kinh Tụng Đọc Toàn Niên) 1865
Đối chiếu Kinh Cầu Đức Bà qua hai bản dịch ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm trong sách 本經誦讀全年 (Bản Kinh Tụng Đọc Toàn Niên) 1865
Chi tiết >>
Tuồng Thương Khó-Tác giả: Cố Giám mục Gioan B. Nguyễn Bá Tòng
Tuồng Thương Khó-Tác giả: Cố Giám mục Gioan B. Nguyễn Bá Tòng
Tuồng Thương Khó-Tác giả: Cố Giám mục Gioan B. Nguyễn Bá Tòng
Chi tiết >>
Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Gửi Các Nghệ Sĩ - 1999-Lm. Đặng Xuân Thành chuyển ngữ
Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Gửi Các Nghệ Sĩ - 1999-Lm. Đặng Xuân Thành chuyển ngữ
Không ai cảm nhận sâu sắc hơn các bạn, những nghệ sĩ, những nhà sáng tạo tài tình của cái đẹp, sự rung động tình cảm (pathos) mà Thiên Chúa đã cảm nhận khi nhìn công trình do tay mình tạo dựng vào thuở khai nguyên vũ trụ. Thoáng tình cảm ấy cũng thường sáng lên trong đôi mắt các bạn, khi các bạn cũng như các nghệ sĩ của mọi thời đại bị cuốn hút trước sức mạnh kín đáo của âm thanh và lời nói, của màu sắc và hình dáng, khi các bạn thán phục trước công trình mà mình đã được cảm hứng tạo ra. Các bạn cảm thấy như trong đó vang vọng lại mầu nhiệm sáng tạo mà Thiên Chúa, Đấng sáng tạo duy nhất của muôn loài, muốn các bạn tham gia một cách nào đó.
Chi tiết >>
Sau một trăm năm đọc lại tuồng Thương Khó- Kịch bản sân khấu hiện đại đầu tiên của người Việt- Tác giả: Võ Văn Nhơn- Đinh Phạm Phương Thảo
Sau một trăm năm đọc lại tuồng Thương Khó- Kịch bản sân khấu hiện đại đầu tiên của người Việt- Tác giả: Võ Văn Nhơn- Đinh Phạm Phương Thảo
Bên cạnh Thầy Lazaro Phiền (1887) - tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên của Nguyễn Trọng Quản, kịch bản Tuồng cha Minh (1881) của nhà in Tân Định, Sài Gòn cũng có thể xem là vở kịch hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, Tuồng cha Minh là một kịch bản do Marie-Antoine Louis Caspar, một thừa sai người Pháp sáng tác. Chỉ đến năm 1912, với Tuồng Thương khó của Nguyễn Bá Tòng được xuất bản bởi Imprimerie de la Misson, chúng ta mới có kịch bản hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên do một người Việt Nam sáng tác.
Chi tiết >>
Tòa Giám mục Phát Diệm
75 Phát Diệm Đông – Phát Diệm – Ninh Bình
ĐT: (+84) 229 3862 058 – Fax: (+84) 229 3862 724
Email: tgmpdiem@gmail.com
Ban Truyền thông Phát Diệm
Email: bttphatdiem@gmail.com
Kết nối với chúng tôi
Copyright © 2011-2025 Ban Truyền thông Phát Diệm