10h:50 (GMT+7) - Thứ tư, 1/12/2021 Theo dõi MXH:

"Lạy Thầy, xin cho tôi được thấy" (Mc 10, 46-52)

Tài liệu “Monita Ad Missionarios - Nhắn nhủ các thừa sai” của Công đồng Yuthia 1664

21h:41 (GMT+7) - Thứ bẩy, 3/07/2021

 

THÁNH BỘ TRUYỀN BÁ ĐỨC TIN

TÀI LIỆU
MONITA AD MISSIONARIOS - NHẮN NHỦ CÁC THỪA SAI
CÔNG ĐỒNG YUTHIA 1664

Tác giả: François Pallu - Lambert de la Motte
Bản dịch của Giáo phận Kontum

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU

DẪN NHẬP

THƯ ĐỆ TRÌNH ĐỨC THÁNH CHA CLÉMENT IX

TÂM THƯ GỬI CÁC THỪA SAI

LỜI TỰA

Chương I: VỊ THỪA SAI PHẢI TRÁNH MỌI SỰ BUÔNG THẢ

       Tiết 1: Những cám dỗ chính mà các vị thừa sai gặp phải

       Tiết 2: Tránh lo cho thân xác quá đáng

       Tiết 3: Về tính tự phụ và vinh quang phù phiếm.

       Tiết 4: Về lòng ham mê của cải

       Tiết 5: Về việc chuyên cần cầu nguyện

Chương II: NHỮNG ĐÒI HỎI TRONG CÔNG VIỆC TÔNG DỒ

       Tiết 1: Phải tĩnh tâm khi đến xứ truyền giáo

       Tiết 2: Nền tảng của công việc rao giảng đặt trên chay tịnh cầu nguyện khinh chê những phương tiện thuần túy trần thế

       Tiết 3: Vị Thừa Sai phải chuẩn bị chống lại ma quỉ

       Tiết 4: Cất công tìm hiểu hiện trạng nơi chốn truyền giáo

       Tiết 5: Việc học ngôn ngữ thì rất cần thiết cho các thừa sai

Chương III: ĐỂ SỬ DỤNG ĐÚNG ĐẮN NHỮNG PHƯƠNG TIỆN CON NGƯỜI

       Tiết 1: Những phương tiện thuần tuý con người hoàn toàn không phù hợp với tinh thần tông đồ

       Tiết 2: Người Tông Đồ không được làm thương mại, vì việc này bất xứng với ngài

       Tiết 3: Không được phép sử dụng bất cứ hình thức bạo lực nào để rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô

       Tiết 4: Nhà Thừa Sai không được trông chờ vào những thủ thuật con người để tạo uy tín

       Tiết 5: Đứng trước sự khôn ngoan loài người

       Tiết 6: Những phương tiện loài người khác

       Tiết 7: Vị Thừa Sai sẽ làm gì, nếu xứ truyền giáo của ngài có vẻ suy sụp bởi đã khinh chê những phương tiện thuần tuý con người?

Chương IV: VÀI HƯỚNG DẪN CHUNG PHẢI TUÂN THỦ VỀ SỨ VỤ RAO GIẢNG

       Tiết 1: Việc rao giảng là bổn phận chính của nhà truyền giáo đi đôi với một cuộc sống gương mẫu chuyên chăm làm việc thiện

       Tiết 2: Nhà Thừa Sai phải chuẩn bị trước mặt Thiên Chúa đã rồi mới thi hành sứ vụ rao giảng. Việc chuẩn bị này bao gồm điều gì?

Chương V: VỊ THỪA SAI PHẢI LÀM GÌ ĐỂ GIÚP LƯƠNG DÂN TRỞ LẠI?

       Tiết 1: Những tín điều chính yếu nền tảng của đạo

       Tiết 2: Thiên Chúa đòi hỏi sự thờ phượng, không phải vì Người cần sự phục vụ của chúng ta, nhưng nhằm vào lợi ích cho chúng ta

       Tiết 3: Về luật đạo và những giới răn của Đạo

       Tiết 4: Chống lại việc thờ ngẫu tượng

       Tiết 5: Về sự thận trọng phải tính đến về thái độ của những người chưa tin

Chương VI: VIỆC ĐÀO TẠO CÁC DỰ TÒNG

       Tiết 1: Cung cách ứng xử với dự tòng

       Tiết 2: Các tín điều cần dạy trước tiên cho dự tòng

       Tiết 3: Dạy những tín điều khác cho dự tòng

       Tiết 4: Vài mối ngờ vực của kẻ chưa tin về giáo thuyết trình bày trên đây

       Tiết 5: Hai mầu nhiệm cao trọng nhất: Thiên Chúa Ba Ngôi và Nhập Thể

       Tiết 6: Những qui luật cần tuân thủ khi rao giảng cuộc sống và sự chết của Đức Giêsu Kitô

       Tiết 7: Lề luật Tin Mừng

       Tiết 8: Giải đáp cho thắc mắc thường gặp nơi lương dân

       Tiết 9: Nguyên do và chứng cứ cho thấy Thiên Chúa đã ban lề luật Tin Mừng và buộc mọi người phải tuân giữ

       Tiết 10: Những sắc thái và phẩm tính của Hội thánh

       Tiết 11: Việc điều hành trong Hội thánh

Chương VII: TRAO BAN BÍ TÍCH THANH TẨY

       Tiết 1: Từ việc chăm sóc đến việc huấn luyện dự tòng trước khi ban phép Thanh tẩy

       Tiết 2: Lựa chọn giữa những thỉnh nhân lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy

       Tiết 3: Từ việc chuẩn bị cần thiết đến việc Thanh tẩy

Chương VIII: TÂN TÒNG

Chương IX: NHỮNG KITÔ HỮU TÒNG GIÁO LÂU NĂM

       Tiết 1: Hướng dẫn và gìn giữ các tín hữu được giao cho chủ chăn coi sóc

       Tiết 2: Về việc cai quản mỗi nhà thờ, nhất là khi thiếu linh mục

Chương X: ĐÀO TẠO THẦY GIẢNG VÀ TIẾN ĐẾN CHỨC THÁNH

       Tiết 1: Những đức tính cần thiết nơi các Thầy giảng và cách thức đào tạo

       Tiết 2: Ý kiến cho các Thầy giảng ra đi nhận trách vụ

       Tiết 3: Những phẩm hạnh cần thiết cho các Thầy Giảng để họ có thể được thăng Chức Thánh

Phụ lục: CHO CÁC VIỆC ĐÀO TẠO TRƯỚC

       A/ Vài nguyên tắc khảo sát trong bài thuyết trình về các tín điều đầu tiên.

       B/ Những ghi chú cho những giải thích về tội tổ tông

       C/ Phải rao giảng Chúa Cứu Thế như thế nào?

       D/ Tính ưu việt của luật Thánh Kinh so với các luật khác


LỜI NÓI ĐẦU

Vào đầu thế kỷ XVII, sau khi thành lập Thánh Bộ Truyền Giáo (1622) Giáo Hội bày tỏ ước vọng mãnh liệt thúc đẩy việc truyền giáo. Đồng thời Tòa Thánh muốn giành lại việc điều hành xứ truyền giáo mà trước đây Đức Alexandre VI đã giao độc quyền cho hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, từ hiệp ước Tordesillas (1494). Tòa Thánh hân hoan đón nhận các đề nghị của Linh Mục Alexandre de Rhodes dòng Tên, khi ngài đến Rôma khoảng năm 1650. Mục đích của ngài là để biện hộ cho việc gửi các Giám Mục đến Á Châu. Họ sẽ lãnh trách nhiệm đào tạo hàng giáo sĩ bản địa nhằm bảo đảm việc coi sóc các bổn đạo và đủ khả năng sống còn trong thời buổi bách hại. Nhưng lúc đó, Bộ Truyền Giáo không được sự ủng hộ lẫn thiếu phương tiện, và các Giáo Hoàng vẫn ngần ngại không dám quyết định, sợ gây ra xung đột với các nước Tây và Bồ.

Vào năm 1653, Alexandre de Rhodes đến Pháp để truyền bá ý định của mình. Sự biện hộ cho việc cử các Giám Mục đến Á Châu được đón nhận nhanh chóng và mang lại một sự thành công thấy được nơi hàng giáo sĩ ở Paris. Ngài cũng tìm được những người tình nguyện đến từ các giáo sĩ trẻ của Hội Ái Hữu. Các thành viên của Dòng Thánh Thể, từ lâu nay vẫn mong mỏi cộng tác vào công cuộc truyền giáo, quyết định dùng ảnh hưởng và phương tiện của mình thực hiện dự án tốt đẹp này. Họ gửi các đơn thỉnh cầu lên các Đức Innocent XI và Alexandre VII. Các Giám Mục và giáo hữu ở nước Pháp cũng đã can thiệp vào. Một cuộc vận động cuối cùng của Dòng Thánh Thể và của Hội Ái Hữu đi đến chỗ thuyết phục được các Hồng Y ở Bộ Truyền Giáo: Bốn vị Giám Mục được bổ nhiệm với tước hiệu Giám Mục Tông Toà. Đó là các Đức cha Francois de Laval Montmorency, Đức cha François Pallu, Đức cha Lambert de la Motte và Đức cha Ignace Cotolendi. Một trong bốn vị trên là Đức cha Francois de Laval Montmorency, đã được cử đến Canada với tư cách là Giám Mục Tông Tòa. Chính ngài đã đóng góp rất nhiều vào việc thành lập Chủng viện của Hội thừa sai Balê, nhưng sau đó xứ truyền giáo Canada được tách ra để hoạt động độc lập. Ba vị Giám Mục Tông Toà còn lại thì lên đường sang Á Châu. Đức cha Fr. Pallu làm Giám Mục Tông Toà Đàng Ngoài, kiêm các tỉnh của Trung Hoa giáp ranh (xứ Đàng Ngoài); Đức cha Lambert de la Motte làm Giám Mục Tông Toà Đàng Trong kiêm các tỉnh Miền Nam Trung Hoa; Đức cha Ignace Cotolendi làm Giám Mục Tông Tòa Nam Kinh, kiêm các tỉnh phía Đông Trung Hoa, xứ Tartarie và Triều Tiên. Trước khi lên đường nhận nhiệm sở, các vị đã nhận được từ Đức Alexandre VII những chỉ thị rất chính xác trong Huấn dụ năm 1659. Tựu trung có 3 điểm chính: Thiết lập hàng giáo sĩ bản địa càng đông cũng như được đào tạo càng kỹ lưỡng càng tốt; Khả năng thích nghi với phong tục tập quán địa phương; Và không được có quyết định quan trọng nào khi chưa tham khảo với Rôma.

Đức cha Lambert de la Motte rời nước Pháp vào tháng 6.1660, còn Đức cha Cotolendi khởi hành vào tháng 7.1661. Cuối cùng Đức cha Pallu cũng lên đường vào ngày 3 tháng 01 năm 1662. Mỗi GM đều có thêm một số Linh Mục và giáo dân đi theo. Tính tổng cộng có 17 vị thừa sai (Giám mục+ Linh mục + giáo dân) đã rời nước Pháp để đến Á Châu. Tám vị đã chết dọc đường, trong số đó có Đức Cha Cotolendi và ngài được chôn cất ở bờ biển Đông Ấn. Những vị sống sót cuối cùng đã tới được Ayuthaya, thủ đô Vương Quốc Siam, một trong những vùng hiếm hoi mà người ngoại quốc có thể cập bến an toàn.

Các vị Giám Mục Tông Toà này được coi như những sáng lập viên của Hội thừa sai Balê. Trước khi rời nước Pháp, họ đã không tự đặt ra cho mình những qui tắc ứng xử và cũng không vạch ra những luật lệ cho những vị thừa sai đồng hành. Họ vừa không biết ngôn ngữ địa phương, vừa không có kinh nghiệm về cuộc sống truyền giáo lại không am tường não trạng các sắc tộc mà họ sẽ gặp. Do đó họ chờ đến khi tới được nhiệm sở rồi mới đưa ra những điều lệ đã được thỏa thuận chung “để mỗi người tuân giữ dễ dàng hơn những điều mà chính mình đề ra hoặc ít ra đã được phê chuẩn”.

Trước tiên họ đã tìm nguồn cảm hứng trong việc tĩnh tâm và sám hối, họ cầu nguyện, ăn chay trong nhiều ngày, khai mạc các cuộc họp bằng việc cử hành thánh lễ cầu xin Chúa Thánh Thần, tiếp đến họ phân phát các đề mục sẽ được bàn thảo và không quên dặn dò “Mỗi người hãy củng cố tất cả các phương châm và các quyết định về các đề mục này dựa vào Kinh Thánh, Giáo Luật và các Hiến Chế của các Đức Giáo Hoàng, học thuyết của các Giáo Phụ, dựa theo hạnh các thánh, nhất là hạnh thánh Fr. Xavier”. Từ những công việc được thảo luận chung và được phối hợp chặt chẽ này, một quyển sách đã ra đời với nhan đề: Những Chỉ Dẫn để chu toàn nhiệm vụ Tông đồ, rất có ích cho các xứ truyền giáo Trung Hoa, Đàng Ngoài, Đàng Trong, Siam. Những chỉ dẫn này được soạn thảo do các vị thừa sai thuộc Thánh Bộ Truyền Giáo tại Ayuthaya, thủ đô Vương Quốc Siam.

Thần học gia lỗi lạc Jean Bonna, cha sở St. Bernard, kiêm cố vấn thần học Thánh Bộ đã tuyên bố rằng: Quyển Monita “Tràn đầy tinh thần tông đồ, phù hợp với đức tin truyền thống Công Giáo và cần thiết cho các Linh mục đang làm việc tại các giáo xứ truyền giáo vì phần rỗi những người chưa tin”. Đức Clément IX đã phê chuẩn cuốn sách này kèm theo lời khen ngợi và được Bộ Truyền Giáo cho xuất bản năm 1669. Sau đó, cuốn Monita được tái bản nhiều lần tại nhà in của Bộ Truyền Giáo, và kể từ cuối thế kỷ XIX, được in lại từ nhà in của Hội thừa sai Balê tại Hồng Kông. Hội thừa sai Balê xuất bản lần đầu năm 1893 dưới nhan đề ngắn gọn: “Monita ad Missionarios S. Congregationis de Propaganda Fide” Những Chỉ Dẫn cho các vị thừa sai của Bộ Truyền Giáo.

Vào năm 1920, cha Albert Geluy, thừa sai thuộc Dòng Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ (Scheut), đã dịch cuốn Monita sang tiếng Pháp. Bản dịch này, vẫn giữ nguyên vẹn giá trị và được giữ nguyên trong lần tái bản này.  

Ước gì cuốn Monita, trước đây được dùng như cẩm nang cho các Linh mục thuộc Hội thừa sai Balê, từ thế kỷ XVII, nay vẫn còn là sức mạnh dẫn đường cho các vị truyền giáo trên khắp thế giới.

* * *

DẪN NHẬP

Tại sao lại đi tái bản một bản văn đã ra đời hơn 3 thế kỷ trước? Và trên nữa, lại vào một thời kỳ bị ám ảnh bởi cái mới, bởi cái nhìn về tương lai, “cho dù ngay cả khi ta gợi lại hình ảnh tự tin của cụ bà khéo léo pha café hay nét mặt của bà mẹ giỏi dọn sẵn những thứ mứt ngon như xưa”. Có phải ta muốn chứng minh cho sự quyến luyến không suy xét, không đắn đo và phi lý vào quá khứ? Và qua đó, không đánh giá đúng sự cần thiết của đường lối canh tân do Giáo Hội khởi xướng tại Công Đồng Vat II? Và đối với những vấn đề có liên quan đến công việc truyền giáo, có phải như vậy là không biết đến những đòi hỏi cấp bách của vấn đề mà người ta gọi là Hội Nhập Văn Hóa, không thèm để ý đến những yêu sách chính đáng của các Giáo Hội địa phương đang đi tìm cho mình một bản sắc văn hóa đặc thù?

Nhưng có lẽ ta cần nhìn đến một khía cạnh khác. Đó chính là hiểu rõ hơn về lịch sử, về thân phận mỏng giòn chóng qua của chúng ta, về mối giao lưu giữa các nền văn hoá, các nền văn minh và các tôn giáo khác nhau, trong khi ta vẫn ý thức đây là một cuốn sách được viết vào một thời điểm quan trọng trong lịch sử của chúng ta. Có lẽ chúng ta bị tiêm nhiễm một cách vô thức bởi một ý thức hệ sai lạc và ngây ngô chỉ coi thời gian như sự tiến bộ. Lévi-Strauss có lý khi tố cáo ý thức hệ này như là gắn bó với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong quyển tiểu luận của ông dưới nhan đề: “Chủng tộc và Lịch sử”. Các nhà kinh viện thời Trung Cổ, thường bị coi là những kẻ tôn sùng các tác giả xưa, cũng có thái độ tinh tế hơn khi nhận định rằng: “Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy chân lý nếu chúng ta hài lòng với việc đặt những bước chân của chúng ta vào những dấu chân của người đi trước. Chúng ta nhìn xa hơn họ, bởi lẽ chúng ta là những người lùn đứng trên vai những người khổng lồ”.

Cứ nghĩ trung thực là theo kiểu lập lại hoặc sao chép lại, thì không biết gì về trung thực cả. Cho rằng cứ gạt phăng quá khứ, thì cũng coi như tự huỷ hoại tay chân mình và đắm mình vào ảo ảnh. Ngày nay khi tiếp xúc với bản văn do các sáng lập viên của chúng ta biên soạn, chúng ta không có chủ đích lưu giữ một quá khứ bằng cách lập lại nó. Đồng thời chúng ta cũng không muốn tranh cãi những thiếu sót hoặc những gì chưa thỏa đáng của nó, chúng ta chỉ đảm trách tiến trình mà cha ông chúng ta chưa hoàn thành, với óc phê bình và xây dựng. Lịch sử luôn vận hành và trong lịch sử chỉ có chân lý khi đã được tiên đoán và chỉ có sự vô tội khi đã được tha thứ.

Đức tin, sự lắng nghe và đón nhận Lời Chúa đã được thực hiện nơi Đức Giêsu luôn gắn liền với thời đại, sẽ giúp ta hướng về tương lai, về bản ngã tự do của chúng ta bằng cách vận dụng mọi tiềm năng không ngừng được ban phát cho chúng ta. Nếu đức tin là đón nhận Lời Chúa thì nó rất dễ hiểu và gần gũi với biểu tượng của hạt giống gieo vào lòng đất. Ở đây ta phải cảnh giác với cả tham vọng muốn đồng hóa hạt giống với những hình thức nảy mầm, lẫn quyết đoán cho rằng mùa gặt đã xong. Cuốn sách của chúng ta được ra đời từ một khởi xướng và từ một sự liều bước khó khăn trong một giai đoạn lịch sử mà nó không khởi đầu cũng không kết thúc. Cái bất hủ mà ta còn khám phá trong cuốn sách chính là lời mời gọi tiếp tục cuộc hành trình trong lịch sử má nó chỉ chứng thực chứ không khởi xướng. Đối với con người, cái vĩnh cửu có vị trí của nó trong cái nhất thời, cũng như cái phổ quát có chỗ đứng của nó trong cái đơn chiếc và cái đặc thù. Một lối nhìn như thế đòi hỏi phải có sự rành mạch và biện phân nhưng không được tách biệt. Khi đưa Lời Chúa vào thời gian, Đức tin trở thành nguồn mạch của sự vĩnh cửu, cũng như khi đưa Lời Chúa vào cái cá biệt thì Lời Chúa trở nên căn nguyên đưa đến sự cởi mở và gặp gỡ. Mỗi dân tộc đều có khuynh hướng đồng nhất hoá mình với mẫu chung CON NGƯỜI, cũng như đồng nhất hoá văn hoá riêng của mình vào nền VĂN HÓA phổ quát, tôn giáo của mình vào nền TÔN GIÁO chung, trong khi ta lại quên rằng: Con người vượt qua con người, không có định nghĩa nào diễn tả đúng mức của nó được. Sự đón nhận Lời Chúa phải dẫn đưa con người, không phải đến chỗ thần thánh hoá sự hiểu biết sẵn có, coi nó như một sự tuyệt đối, trái lại phải sẵn sàng lắng nghe. Mọi Hòa nhập văn hoá đều có giới hạn. Không có và cũng không thể có một nền “Văn Hoá Kitô Giáo”, hay nói cách khác, không có sự diễn dịch tương xứng với Lời Chúa. Tất cả các nền thần học đều bị tiêm nhiễm bởi ý thức hệ và bị giằng co với cái mà nó đang kiếm tìm...

Một trong những giá trị không phải là nhỏ của cuốn sách trên là biến sự cầu nguyện thành những đôi tay chắp lại, biết từ bỏ sự chiếm đoạt, biến sự suy gẫm Tin Mừng không bao giờ được hiểu cách thỏa đáng thành nguồn phê bình và nguyên lý của mọi công cuộc rao giảng. Ta còn phải tránh chen vào chữ “cầu nguyện” những khuôn mẫu tưởng như quen thuộc.Cầu nguyện, mà ta muốn nói ở đây, phải làm bật lên một cung cách khi đối diện với Tin Mừng, Lời đã được gieo mà mảnh đất đón nhận chính là con người với lý trí và những tiềm năng có thể có được trong hành trình...

Hoàn toàn không có đối nghịch giữa công việc trí thức nhờ vào những công cụ và phương thức phải dùng với thái độ đức tin và chiêm niệm. Để lấy lại một tham chiếu đã trở thành khuôn mẫu: Những ý tưởng “tuyệt cú mèo” của triết gia thường bay lượn khi màn đêm buông xuống, và bà Maria cũng chẳng kém phần “tích cực” so với bà Martha. Những Giám Mục Tông Toà coi việc học và thấu đáo những ngôn ngữ, những nền văn hoá và các tôn giáo, như là một mệnh lệnh tuyệt đối. Vậy mà cũng chẳng thiếu kẻ cho rằng những điều nói trên là những đòi hỏi mới có đây, và như thế tự biến mình thành trò cười, vì tưởng rằng mình sáng chế ra “dây lạt cắt bánh chưng”. Có lẽ nền thần học Tây Phương đã kém hiểu biết hoặc đánh giá thấp thuyết lấy chủng tộc mình làm nôi văn hoá (vd: Trung Hoa), trong khi chính nền thần học này cũng rất giống với thuyết trên mà không hay và vẫn con tiếp tục cổ võ...

Ưu tư của các Giám Mục Tông Tòa là muốn tách việc truyền giáo ra khỏi những việc thương mại. Lý do là muốn bày tỏ và duy trì tính ưu việt và nhưng không của Tin Mừng. Phải thấy ở đây là không có coi khinh kinh tế, mà đúng hơn là đề phòng sự độc hại của nó một khi nó thống trị tất cả. Không được quên rằng các Giám Mục Tông Tòa sống vào một thời buổi mà người ta bắt đầu ý thức về tầm mức quan trọng của sức mạnh kinh tế. Vào năm 1615, Montchrestien đã xuất bản cuốn Chuyên Luận Kinh Tế Chính Trị Học nổi tiếng của ông ta, lập tức các Giám Mục Tông Tòa đã phản ứng chống lại khi nhận thấy có sự “mập mờ đánh lận con đen” giữa kinh tế và truyền giáo. Nhưng sau Montchrestien, lại xuất hiện A. Smith, K. Marx, Phong trào O.M.C và những ý thức hệ mà họ đang theo đuổi và phát động. Vị thừa sai không dính dáng chút nào đến kinh tế, thái độ này đã đủ chưa? Giải pháp đề nghị là tùy thuộc vào mức độ nhận thức những tác dụng tiêu cực thấy được.

Giải pháp trên cũng không tránh khỏi những phê phán của các khoa nhân chủng, xã hội, văn hoá hoặc tôn giáo. Con người có đạo hay không đều phải giải đáp những vấn nạn mà họ gặp. Những vấn nạn này lại nằm ngay trong những câu trả lời có sẵn. Nếu ta quá hấp tấp muốn thoát ra khỏi sự phức tạp của vấn đề thì lại bị câu trả lời mê hoặc mà không lưu ý đến lời cảnh cáo của K.Marx trong cuốn Vấn đề Do Thái: “Chính cách đặt vấn đề đã bao hàm câu giải đáp”. Các tác giả của Monita có thể không biết nhiều về những hình thức đa dạng của bạo lực khi chủ trương đức khiêm nhường là nhân đức chính yếu của vị thừa sai, cũng chính là nhân đức lắng nghe và quan tâm đến người khác.

Nhưng họ không hề do dự phản bác và lên án việc dùng bạo lực để rao giảng Tin Mừng. Dù không muốn đụng đến “những chuyện đã xẩy ra bên Ấn Độ nơi thiên hạ sử dụng vũ lực”. Các ngài đã tố cáo các thừa sai không biết hổ thẹn khi thốt ra những lời nói đại loại như: “Đừng có mong chờ gì ở chùm chìa khóa của thánh Phêrô để làm cho lương dân trở lại, nếu không sử dụng thanh gươm của thánh Phaolô đi trước mở đường”.

Vào thời kỳ này, người ta đã có một cái nhìn mới về quyền lực. Quyển De Cive của Hobbes, được dịch sang tiếng Pháp xuất hiện vào năm 1640. Đối với các vị Giám Mục Tông Tòa, Tin Mừng và Tự Do luôn đi đôi với nhau. Một trong những lý do thành lập Bộ Truyền Giáo năm 1622, là tách việc truyền giáo ra khỏi chính trị. Sự cảnh giác về việc sử dụng “những phương tiện trần thế” có thể làm chúng ta ngạc nhiên, nhưng phải hiểu đó là ước muốn được tự do để rao giảng Tin Mừng. Những phương tiện trần thế bao gồm tất cả những gì có thể làm tổn hại hoặc che khuất ánh sáng Tin Mừng. Sự hiểu biết ngôn ngữ, văn hoá, và các tôn giáo được trình bày như là một mệnh lệnh cấp bách. Người ta có thể cho rằng ở đây còn thiếu một sự suy nghĩ thỏa đáng về những điều kiện giúp đối thoại một cách chân thực. Nhưng về điểm này, ngay cả ngày hôm nay, chúng ta đã vượt qua được những luận điệu mà tính chỉ thị và hô hào, hoặc những mô hình pha trộn ít nhiều tạm bợ chưa?

Cần thêm một vài nhận xét để tiếp tục cách đọc Monita. Nếu các Giám Mục Tông Tòa đã tìm được ngay trong Kinh Thánh chất men phê phán đã từng dẫn dắt các ngài trong việc truyền giáo, thì việc gặp gỡ các sắc dân, nền văn hoá, tôn giáo của họ sẽ không ngừng làm cho các ngài phải thắc mắc. Các ngài chủ trương tìm ra những điểm đồng nhất (những mẫu số chung), những điểm đồng thuận, nhưng các ngài cũng nhận ra ngay là có một số công thức diễn tả đức tin, vì thiếu sự đồng thuận văn hoá đã khiến nhiều người lui bước, khó chấp nhận.Các ngài cũng cố gắng tiếp cận với thuyết luân hồi khi trình bày tội Nguyên Tổ. Những quan điểm như thế, mặc dù còn rụt dè và “ấp úng”, có lẽ đã mở ra một hướng đi (cho việc truyền giáo). Ta cần làm quen tiếp cận với những xác quyết nhằm giải quyết các vấn đề hơn là đối đầu trực tiếp. Việc đưa Tin Mừng hòa nhập vào nền văn hóa Tây Phương đã có thể là sự “chiếm đoạt”, và do vậy đã đi tới chỗ củng cố một thứ chủ thuyết lấy chủng tộc mình làm cái nôi, lại vừa tố cáo phản ngược lại (chủ thuyết ấy)...mọi ý thức hệ, ngay cả một ý thức hệ được hình thành nhờ tiếp xúc với Tin Mừng, cũng phải chịu sự phê phán của Tin Mừng.

G. Espie

* * *

THƯ ĐỆ TRÌNH ĐỨC THÁNH CHA CLÉMENT IX

Kính trình Đức Thánh Cha,

Từ lúc mà Thiên Chúa nhân từ đã đoái thương gọi chúng con đi truyền giáo, mặc dù chúng con bất xứng; và từ lúc mà vị Tiền nhiệm của Đức Thánh Cha, Đức Alexandre VII đáng nhớ, đã cất nhắc chúng con lên hàng Giám Mục và sai chúng con đến với lương dân giúp họ trở lại, thì không điều gì khiến chúng con quan tâm hơn là đem hết sức lực để hoàn thành sứ mạng cao quí và quan trọng này. Chúng con đã nghe nhiều, chúng con đã đọc nhiều, chúng con cũng đã quan sát tường tận tại các cuộc họp với những anh em đồng nhiệm từ các xứ truyền giáo, và nhờ kinh nghiệm chúng con đã xem xét kỹ lưỡng tất cả các tường trình. Một biến cố “thuận lợi” chưa chắc đã giúp ích cho chúng con bằng việc chúng con phải bị bắt buộc dừng lại lúc vừa đến ranh giới lãnh thổ được giao phó. Ý Chúa quan phòng đã làm chậm lại những nỗ lực của chúng con để chúng con cùng nhận ra điều phải làm hoặc phải tránh, đồng thời sự quan phòng cũng bảo đảm “một vụ mùa bội thu” sắp tới.

Chúng con nhận ra ngay ảnh hưởng to tát của các Đấng thừa sai nhờ vào những nhân đức và đời sống thánh thiện trong việc làm cho lương dân trở lại. Cũng thế, chúng con ý thức rằng việc trở lại của lương dân bị chậm lại hay bị cản trở vì sự bất xứng và đầu óc trần tục của các sứ giả hoà bình. Một số tác giả có thế giá, đặc biệt là Joseph Acosta I, đã thẳng thắn nhận định: Các xứ truyền giáo vốn rất phồn thịnh, và đầy hứa hẹn đã tan biến vì lối cư xử bất xứng của một số thừa sai, hoặc vì cách truyền bá Tin Mừng đã đi ngược lại với chính sứ điệp Tin Mừng, hoặc do sự thiếu nhiệt tâm và thiếu hiểu biết của họ. Cũng thế, để những nơi được giao cho chúng con tránh được những tai họa như thế, chúng con mạo muội đưa ra một số ý kiến mà chúng con tin sẽ giúp tránh xa được những bất trắc sẽ xảy ra, những ý kiến này chúng con tóm gọn trong tập CHỈ DẪN. Do đó, trong tài liệu này, chúng con trình bày cách thức phải tránh những thói quen buông thả bằng cách sống các nhân đức tông đồ (chương I). Chúng con quan tâm đến việc cải thiện cách truyền bá Tin Mừng, dựa theo cách thức tuyệt diệu của Chúa Kitô và các Tông đồ (ch II, III và IV). Sau cùng, để đánh tan sự dốt nát, chúng con đã trình bày những bổn phận phải thực thi khi đi làm việc tông đồ nơi lương dân (ch V), nơi các dự tòng (ch VI), nơi những ứng viên đã được tuyển chọn để lãnh nhận Phép Rửa (ch VII), nơi các tân tòng (ch VIII), nơi các tín hữu đã được đào luyện (ch IX), nơi những thầy giảng sẽ được lãnh chức linh mục (ch X). Trong phần phụ lục, chúng con cũng thêm những ý kiến rất hữu ích liên quan đến cách giảng dạy cho có hiệu qủa, hoặc những điều phải truyền đạt.

Khi Tòa Thánh sai chúng con đến miền Viễn Đông, thì mục đích và yêu cầu của Tòa Thánh là chúng con phải đào tạo những linh mục có khả năng trở thành những cột trụ của Giáo hội đang thành hình. Chúng con thiết tưởng rằng nên trình bày những tín điều chính của Kitô giáo, không phải làm cho qua chuyện nhưng đào sâu cách tối đa trong mức độ mà cuốn sách ngắn gọn này cho phép.

Do đó chúng con đã chứng minh chân Đạo và đang hiện hữu: đó là Đạo tôn thờ Thiên Chúa nhân từ và cao cả. Chúng con đề ra một quan niệm hay một ý tưởng về Thiên Chúa, thích ứng với tâm thức chung (chương V. tiết 1,2,3&4).

Thứ đến, chúng con đã chỉ ra sự cần thiết và sự hiện hữu của một Đấng Trung Gian Duy nhất là Đức Kitô, Chúa chúng ta. Chúng con cho thấy Lề Luật mà Người loan báo không mới mẻ gì và thực ra không xa lạ với chân Đạo. “Đạo của Chúa Kitô cần thiết cho sự cứu rỗi từ buổi tạo thiên lập địa”. Lề luật ấy chỉ là một sự bổ túc và là đỉnh chóp hoàn hảo mà ta không cần thêm thắt cũng như không có lý tưởng cao đẹp nào sánh bằng. (chương VI, tiết 3,4,5,6,7 và!)

Sau đó, chúng con đã cho thấy rằng chân Đạo vốn có một Giáo hội hữu hình, một tổ chức trật tự bao gồm mọi tín hữu, và Giáo Hội đó phải biểu hiện ra bằng những đặc tính và sắc thái rõ rệt. Cuối cùng, chúng con xác tín rằng chính Giáo Hội Rôma được phú cho những phẩm tính đó, khiến bất cứ ai sáng suốt và công minh đều phải nhận đây là Giáo Hội chân thật (ch VI, tiết 10 và 11).

Nếu các vị thừa sai và các thầy giảng luôn có trong tâm thức những tín điều này thì niềm tin của họ luôn được củng cố. Họ sẽ có sẵn trong tay phương thế để bảo vệ đức tin công giáo chống lại những nỗ lực quấy phá của quân thù. Thật ra, điều xác tín đầu tiên đủ để làm lung lay những sai lạc của kẻ ngoại đạo. Điều chứng minh thứ hai chống lại vô đạo của đạo Hồi, vạch ra sự ngu dốt của các triết gia, đè bẹp sự liều lĩnh của các kẻ thù khác mang danh Kitô giáo. Cuối cùng, xác tín thứ ba cho thấy giáo hội Rôma, luôn gìn giữ đức tin, chăm sóc giảng dạy chân lý, phải được mọi người vâng phục, có khả năng đánh đổ các giáo phái ly khai. Giáo hội còn vạch cho thấy các môn đồ các giáo phái này khi xa lìa đức tin và đức ái, thì sẽ đi xa lạc con đường cứu rỗi.

Kính thưa Đức Thánh Cha,

Chúng con phải nói đến điều sau cùng là điều chính yếu, nếu không sẽ là một thiếu sót trong tập Chỉ Dẫn này. Chúng con muốn nói đến uy danh của Đức Thánh Cha. Chắc hẳn nó sẽ có tác dụng mạnh mẽ, lôi kéo sự thán phục của mọi người đối với bản Chỉ dẫn, vốn được viết để đào luyện lòng đạo đức và sự nhiệt thành tông đồ. Được Đức Thánh Cha đỡ đầu, tập Chỉ dẫn này sẽ không có gì phải e sợ, chắc hẳn nó sẽ chiến thắng sự lầm lạc và đồi bại.

Xin Đức Thánh Cha đoái nhận lòng kính trọng của những đứa con thảo và xin Đức Thánh Cha ban phép lành Tòa Thánh cho chúng con.

Các đầy tớ hèn mọn và vâng phục của Đức Thánh Cha:

- François, Giám mục Héliopolis,
Giám Mục Tông Tòa Đàng Ngoài,.v.v...

- Pierre, Giám mục Béryte,
Giám Mục Tông Tòa Đàng Trong,.v.v...

* * *

TÂM THƯ GỬI CÁC THỪA SAI

Fr. Xavier, nhờ ơn Thiên Chúa và lòng ưu ái của Tòa Thánh,
Giám mục Héliopolis, Giám mục Tông Tòa Đàng Ngoài,
Và Pierre, cũng hưởng nhờ các ơn trên,
Giám mục Béryte, Giám mục Tông Tòa Đàng Trong.    

Thân gửi các anh em trong Chúa, những người bạn chiến đấu và những cộng tác viên của chúng tôi, ân sủng và bình an trong Chúa Giêsu Kitô.

Chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã khiến anh em rời bỏ quê hương đi chinh phục các linh hồn cho Chúa Kitô và đến trợ giúp các tỉnh thành bị bỏ rơi. Cũng chính tình yêu này đòi buộc chúng tôi phải ân cần yêu mến anh em như những người cha, giúp anh em dễ dàng tiến bước để hoàn thành nhiệm vụ tông đồ hầu đem lại phần rỗi cho các linh hồn đã được giao pho.

Vì thế, sau khi đã tham khảo ý kiến những anh em đang có mặt, chúng tôi đã soạn thảo tập Chỉ Dẫn này, giúp anh em đạt được sự hoàn thiện tông đồ hoặc nhận biết những bổn phận phải chu toàn. Ước gì anh em luôn duy trì cùng một cách thức, giảng dạy đúng đắn và một lối sống đồng nhất, thánh thiện hơn. Anh em thân mến, hãy bắt tay vào việc để tỏ sự trung thành, hầu thực hiện lời thúc bách của thánh Tông đồ “Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em coi sóc” (Cv 20, 28).

Nếu anh em không cảnh tỉnh, anh em sẽ không nhận ra những thiếu sót trong việc chu toàn sứ vụ cách đúng mực, cũng như không thể phát huy những tài năng phi thường của anh em. Vì vậy: Anh em hãy giữ mình, bởi người tự bản chất xấu đâu có thể sinh được điều tốt cho người khác? Tiếp đến, anh em hãy lưu tâm đến đoàn chiên phải chăn dắt: Sự lớn mạnh của đoàn đi đôi với sự tăng trưởng lòng sốt sắng và đạo hạnh của anh em. Thực ra, đó cũng là nhiệm vụ tông đồ của các thừa sai khi huấn luyện và hoàn thiện những người khác, làm cho họ nên hoàn hảo thánh thiện hơn.

Đồng thời, nhân danh Thiên Chúa, chúng tôi nài xin anh em hãy tỏ ra xứng đáng với trọng trách trong mọi sự: Xem xét và suy gẫm kỹ càng điều mà chúng tôi viết (liên quan đến) về sự hoàn thiện của vị thừa sai. Cầu nguyện để am tường và để thực thi những điều đó trong nếp sống của anh em. Sau cùng, giữ mình đừng bao giờ thiếu sót. Về phần chúng tôi, cùng với Thánh Tông Đồ, chúng tôi nài xin Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta “thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể các thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Kitô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa.” (Ep 3, 16-19) – “Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2,15) – Vì, “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người sẽ ban cho anh em” (Ga 15,16).

Những chỉ thị cho các thừa sai với phần phụ lục, do lệnh của Thánh Bộ Truyền Giáo. Đã được đọc một cách kỹ lưỡng, hoàn toàn phù hợp với tinh thần tông đồ, xứng hợp với đức tin chính thống và hữu ích cho các linh mục đang làm việc trong các xứ truyền giáo vì phần rỗi lương dân.

Rôma, tại Tu viện Saint-Bernard aux Thermes, ngày 19 tháng 2 năm 1669.

D. Jean Bona,

Abbé de Bernard,

Et Consulteur de la Sainte Inquisition Romaine et Universelle.

 

LỜI TỰA

Chúc tụng Thiên Chúa là nhân từ, Người đã thương yêu chúng ta, Ngài đã không ngừng làm tiến triển công việc được giao phó cho chúng tôi. Trong khi vừa thoát khỏi bao cảnh gian nguy, chúng tôi đã vội vã đi thăm các điểm truyền giáo vừa xa xôi vừa khác biệt; Người đã dun dủi cho tất cả chúng tôi được gặp nhau tại một nơi, vượt qúa mọi ước mong của chúng tôi. Trong biến cố này, chúng tôi cũng cố gắng tìm ra ý định sâu xa của Chúa Quan Phòng, cũng như điều mà Đấng Tối Cao Thượng Trí đòi buộc chúng tôi. Chúng tôi dễ dàng nhận ra rằng không có gì hay hơn là rảo khắp các vùng Á Châu sẵn có các tín hữu đã được dạy dỗ bằng nhiều phương thức thử nghiệm khác nhau. Mục đích là để nhận thức những điều thuận lợi, cũng như những điều cản trở trong công việc truyền bá Đức tin.

Trước hết chúng tôi phải tìm hiểu cặn kẽ hiện tình đạo Kitô và thấu hiểu những tệ nạn đang phát triển tại đó.

Tiếp đến, khi nhóm họp với các đồng sự, ưu tư đầu tiên của chúng tôi, theo lời thánh Tông Đồ gửi cho ông Timothê: “Anh hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong lời giảng dạy. Hãy kiên trì trong việc đó. Vì làm như vậy, anh sẽ cứu được chính mình, lại còn cứu được những người nghe anh giảng dạy.” (1 Tm 4,16) phải là: ưu tư về phần rỗi của chính mình và phần rỗi của các thừa sai khác. Do đó, chúng tôi phải quyết định làm gì, tránh gì để khỏi phải rơi vào con đường xấu. Sau cùng, lấy những qui luật tông đồ làm kim chỉ nam, chúng tôi phải vạch ra đâu là phương cách đúng và tốt để truyền bá Đức Tin. 

Chương IVỊ THỪA SAI PHẢI TRÁNH MỌI SỰ BUÔNG THẢ

Tiết 1: Những cám dỗ chính mà các vị thừa sai gặp phải

Kể từ khi xuất hiện ánh sáng đức tin ở Ấn Độ, các vị thừa sai tận tâm đã không ngừng ra sức truyền bá Tin Mừng, và luôn làm tròn sứ mạng. Nhưng dần dần, một số vị đã đánh mất sự nhiệt tình ban đầu hầu như không còn quan tâm đến những dân tộc được giao phó cho họ, rồi chẳng bao lâu sau, họ không quan tâm đến chính phần rỗi của mình nữa. Các sử gia vốn đã kể lại những điều kỳ diệu do thánh Fr. Xavier thực hiện trong lần đầu tiên ghé qua xứ Đông Ấn, thì chính họ cũng mô tả tình trạng đáng buồn này. Những trường hợp tương tự cũng đã xảy ra ở xứ Tây An: Acosta cũng đề cập đến những chuyện đó trong quyển sách của ông là Việc Trở Lại Đạo ở Ấn Độ. Cám ơn Chúa, những chuyện đó không còn tiếp diễn nữa.

Để ngăn ngừa những tai họa này, các vị thừa sai trên hết phải cố gắng tìm ra các căn nguyên của chúng. Chỉ cần để ý một chút thì sẽ nhận ra ngay các cám dỗ mà các thừa sai gặp phải cũng chính là những cám dỗ mà ma quỉ đã dùng để tấn công Thầy Chí Thánh trong sa mạc; sau này họ còn nhận ra việc rơi vào vực thẳm lại càng dễ dàng. Thật vậy, quá lo lắng cho thân xác và những sự dễ dãi không chính đáng đã dần dần làm suy yếu lòng yêu mến Thiên Chúa nơi nhiều vị khiến họ coi trọng xác thịt hơn tâm linh. Tính tự phụ đã kéo theo nhiều điều xấu khác: Việc tập tành nhân đức chưa xong, còn chưa có thể tự điều khiển được chính mình, vậy mà họ đã dám nhận chăn dắt đàn chiên của Chúa Kitô. Đó chính là bắt đầu xây dựng mà không có tài nào hoàn tất. Tính ham hố cuối cùng cũng đã đưa đến những hậu quả tai hại: lòng tham vô đáy muốn chiếm hữu tất cả dẫn đến cuộc sống xa hoa và yếu nhược. Từ đó ta mới hiểu nết xấu này đã biến những môn đồ thành tín của đức nghèo khó Tin Mừng, trở nên những nô lệ xấu xa của tiền bạc. Đó là cách thức dẫn đưa những tôi tớ của Chúa Kitô đến chỗ phục vụ ma quỉ.

Cho nên, vị thừa sai phải làm mọi cách để bẻ gãy mọi thứ vũ khí trên của ma quỉ. Nếu Chúa Kitô đã muốn đương đầu với những vũ khí của ma quỉ, chính là để dạy cho những tôi tớ Ngài cách thức chiến thắng